"Khai quang yểm nhỡn" và "yểm tâm" tượng là nghi lễ quan trọng để pho tượng trở thành thần thờ cúng, được làm trong lễ "hô thần nhập tượng".
(TT&VH) - "Khai quang yểm nhỡn" và "yểm tâm" tượng là nghi lễ quan trọng để pho tượng trở thành thần thờ cúng, được làm trong lễ "hô thần nhập tượng".
1. Việt Nam không thiếu gỗ và đất có thể làm được điêu khắc, tuy nhiên tùy từng nơi và tùy từng loại tượng mà người ta làm tượng đất hoàn toàn, hay làm tượng đất và gỗ phối hợp (cốt gỗ, bọc đất phủ sơn).
Nhiều Phật động với hàng trăm tượng nhỏ làm hoàn toàn bằng đất, nhiều tượng cỡ lớn như tượng Kim cương, Hộ pháp thích hợp với chất liệu đất hơn là gỗ.
Với tượng nhỏ người ta có thể đắp đất đặc, nhưng với tượng lớn thì chỉ đắp đất ở vỏ tượng còn bên trong hoàn toàn rỗng. Để làm như vậy, thoạt tiên phải đan một cái cốt tượng bằng tre, nhồi rơm vào đó, đắp đất sét trộn sơn, mật và vôi, rơm băm nhỏ, hoặc trộn giấy bản vào vôi đất, đắp ra ngoài cốt tre lấy hình thù ban đầu. Vỏ tượng khô đi co lại bóp chặt vào cốt tre cho đến khi không co lại nữa, người ta mới rút rơm ra khỏi lõi tượng và đắp sửa bên ngoài cho ra hình thù. Quy trình còn lại thì giống như sơn thếp cho một pho tượng gỗ thôi.

Tượng Kim Cương chùa Mía, thế kỷ 18, đất và gỗ phủ sơn.
Nhiều tượng cần râu tóc, mắt thì người ta làm rời bằng tóc người và con mắt thủy tinh mua từ bên Trung Quốc, gọi là nhỡn Tàu. Con ngươi của mắt có thể đung đưa nên người ta đục hai lỗ nhỏ thông nhau gần mắt, chỉ cần chút gió lay là con ngươi hơi chuyển động, nom như mắt người thật.
Tượng bát bộ Kim cương chùa Mía, hộ pháp chùa Thầy (Hà Nội) đều là điển hình của nghệ thuật tượng đất đắp thế kỷ 18, 19. Tượng đất hút sơn ta tương đối nhiều nên cần làm nền bề mặt tượng thật kỹ và sơn những lớp sơn dày chống thấm, tuy nhiên so với tượng gỗ phủ sơn, nó chóng phai màu và tróc màu nhanh hơn. Khuôn mặt của các tượng đất Kim cương và Hộ pháp, người ta thường dùng bột ngà voi để tạo độ trắng và ấm, kỹ thuật này khá tốn kém, nên không phải nơi nào cũng thực hiện được.
2. Để làm một pho tượng có kích thước tương đương với người thật, giá thành thời phong kiến, tương đương với 40 thúng thóc. Sự sơn thếp khá đắt đỏ, nên cần có đóng góp tài trợ của nhiều thí chủ.
Khi tô tượng và đúc chuông cần một lượng vàng lớn, nên số lượng vàng thường không được tính vào giá thành mà là phần riêng cho thí chủ tài trợ. Người ta trực tiếp tháo nhẫn thả vào nồi đồng đang nấu, hay mua nhiều quỳ vàng đưa cho thợ thếp lên tượng trước mặt mình. Những lá vàng dát tượng ngày xưa không quá mỏng và tiết kiệm như vàng quỳ ngày nay, nên thực chất lượng vàng thếp trên tượng cổ khá lớn.
"Khai quang yểm nhỡn" và "yểm tâm" tượng là nghi lễ quan trọng để pho tượng trở thành thần thờ cúng, được làm trong lễ "hô thần nhập tượng". Ngày "khai quang" phải là ngày lành tháng tốt, con mắt mới được vẽ và mắt thủy tinh mới được lắp, sau đó các lỗ yểm tâm được đặt các hạt quý vào, bao gồm một hạt thóc, một hạt vừng, một hạt đỗ, một hạt vàng, một hạt bạc, một hạt kim cương, một hạt mã não, một hạt hổ phách... gói trong một túi lụa vàng. Tuy nhiên, cũng tùy theo kinh tế mà "yểm tâm", không nhất thiết đầy đủ như trên, chủ yếu là ngũ cốc và hạt quý. Lỗ yểm tâm đặt sau lưng tượng có thể là giữa lưng, có thể là giữa lòng, tùy theo, sau khi hô thần nhập tượng, pho tượng mới chính thức được coi là thần thiêng để thờ cúng.
Khi sửa chữa, di chuyển, thường có lễ đưa gói yểm tâm ra và nhập vào sau khi yên vị mới. Ở Nhật Bản, mỗi pho tượng còn có ngọc tượng, dưới hình thức thờ rời, khi dịch chuyển tượng đi đâu đó người ta phải làm lễ rước ngọc tượng đi đầu. Đôi khi người ta còn thiết kế bài vị, văn cúng cho tượng, trong đó kê khai chức vụ, lý lịch của thần tượng trong ngôi đền, chùa nào đó.
Dựng chùa đặt tượng cũng luôn được kể lại trong văn bia. Mỗi pho tượng thờ luôn gắn với một sự tích, một truyền thuyết và một vị trí nhất định trong kiến trúc tôn giáo, đó là linh hồn của ngôi chùa ngôi đến – vị thần sẽ kết nối thế giới tâm linh với con người, đưa con người đến cõi cực lạc, cũng như thường nhật là đấng cứu nhân độ thế.
Phan Cẩm Thượng