thethaovanhoa.vn

40 năm giải phóng Quảng Trị: Sau những bức ảnh của Đoàn Công Tính

26/04/2012 14:10 GMT+7

Những ngày này, Quảng Trị đang sống trong không khí thiêng liêng kỷ niệm 40 năm giải phóng và 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ. Đây cũng là giai đoạn đáng nhớ với nhiếp ảnh gia Đoàn Công Tính, người đã đi vào lịch sử chiến tranh Việt Nam.


(TT&VH) - Những ngày này, Quảng Trị đang sống trong không khí thiêng liêng kỷ niệm 40 năm giải phóng và 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ. Sau chiến dịch tháng 4/1972 (bắt đầu từ 30/3 đến 1/5/1972), Mỹ - Ngụy phải rút khỏi thị xã. Quảng Trị là tỉnh đầu tiên ở miền Nam được hoàn toàn giải phóng với hơn 10 vạn dân.

Đây cũng là giai đoạn đáng nhớ với nhiếp ảnh gia Đoàn Công Tính, người đã đi vào lịch sử chiến tranh Việt Nam với những khoảnh khắc gắn liền với Quảng Trị Nụ cười thành cổ, Đánh chiếm căn cứ Đầu Mầu, Cha con người lái đò sông Thạch Hãn...  Tôi đã gặp và nghe ông kể lại những câu chuyện, những xúc cảm của ông sau nhưng tấm ảnh lịch sử:

3 năm “đốt phim” oan uổng

Nhiếp ảnh gia Đoàn Công Tính

Đoàn Công Tính kể: “Tôi đi học hơi muộn, 15 tuổi mới vào lớp 5 ở Nam Định. Rồi hết lớp 9 thì bỏ học, xung phong vào bộ đội  như đa phần bạn bè cùng lứa. Dễ hiểu thôi, vào năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra đời, bầu không khí hừng hực trên miền Bắc khiến mọi lớp thanh niên đều chọn cho mình con đường ấy.

Tôi không mấy tiếc rẻ về chuyện học hành dở dang. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, văn học vẫn là môn tôi khá nhất. Trong ba lô của tôi, binh nhì Đoàn Công Tính, những năm đầu tiên vẫn luôn có những cuốn sách về lý luận văn học của Gorki, hay sổ tay về kinh nghiệm viết văn của Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyên Hồng... Những cây bút ấy đều tự trưởng thành và đến với nghề văn bằng kinh nghiệm sống của mình. Thậm chí, vài năm sau, khi về báo Quân đội nhân dân, tôi vẫn tin rằng nghề báo chỉ là giai đoạn tích lũy vốn sống để mình có thể trở thành một nhà văn như sở nguyện. (cười)

Năm 1964, tôi được cử đi học Trường Sĩ quan Pháo binh. Cơ duyên đến với nhiếp ảnh khá tình cờ: Tôi ở cùng một học viên có chiếc máy ảnh Zorki 6 bé xíu của Liên Xô. 2 năm học, những lần được anh cho chụp thử đủ để tôi “nghiện” tới mức vét hết tiền, xin mua lại chiếc máy mà tối tối mình vẫn rón rén sờ vào.

Ra trường, về chỉ huy một trung đội pháo binh tại Hải Phòng, giấc mơ làm nhà văn khiến tôi hì hục viết tiểu phẩm gửi tới báo Quân đội nhân dân. Đó đều là những mẩu chuyện con con chừng 300 chữ. Rồi cũng như nhà báo bây giờ, viết bài thì phải... có ảnh đi kèm. Lương thiếu úy của tôi khi đó là 65 đồng còn phim đen trắng bán ngoài huyện là 8 đồng/cuốn. Muốn tiết kiệm, tôi chỉ có cách mua thuốc về, hì hục tự mày mò tráng rửa trong hầm tối, còn phim thì cứ chụp 3 kiểu lại cắt ra rửa một lần.

3 năm trời, cả đống “sản phẩm” gửi tới báo chỉ được đăng vài lần. Khổ nỗi, họ chỉ đăng chữ, còn ảnh gửi kèm thì không một lần xuất hiện. Sau này nhìn lại, tôi nhận ra số ảnh ấy hầu hết đều lỗi nặng về bố cục, góc máy cũng như chọn sáng. Cứ đốt phim mãi như vậy, số ảnh chụp ra cuối cùng chỉ để dán lên báo tường trước lời khen tấm tắc của anh em chiến sĩ.

Đánh chiếm căn cứ Đầu Mầu (1972) - bức ảnh của Đoàn Công Tính từng đoạt Huy chương Vàng Tổ chức quốc tế các nhà báo (OIJ)

Cơ duyên với Thành cổ

Năm 1968, tôi có bức ảnh đầu tiên được đăng trên báo... Tiền phong, chụp một tiểu đội nữ xạ thủ 12 ly 7 tại bờ biển Hải Phòng. Khỏi phải nói, việc một chiến sĩ có ảnh đăng trên báo “xịn” khiến cả trung đội hân hoan thế nào.

Rồi lác đác tới những bức ảnh khác. Ban tuyên huấn Quân khu 3 rút tôi lên công tác tại đó, sau một thời gian ngắn lại tới lượt báo Quân đội nhân dân nhận về. Mọi chuyện như một giấc mơ. Thêm một vài năm cầm máy, tôi mới hiểu rằng quãng thời gian mày mò tự đến với nhiếp ảnh khi trước là quý giá vô cùng để có kinh nghiệm cho mình.

Hai năm vào nghề, tôi có những đợt đi chiến trường ngắn. Địa bàn khi đó là Quảng Trị, vốn luôn là một trong những điểm nóng nhất trong chiến tranh Việt Nam. Sống cùng dân quân du kích, theo họ đi phục kích tại những cứ điểm Cồn Tiên, Dốc Miếu, tôi hiểu thêm khá nhiều về đặc điểm của vùng đất lửa này. Rồi như một cơ duyên, những bức ảnh quan trọng nhất trong đời cầm máy của tôi cũng đều đến từ Quảng Trị.

Năm 1971, tôi có mặt tại chiến dịch Đường 9 - Nam Lào một cách khá may mắn. Trên chuyến công tác xuống vùng Hạ Lào, tôi gặp khá đông xe tăng và bộ đội đang hành quân tại khu vực sông Sê Pôn gần Quảng Trị. Lân la hỏi chuyện để “moi tin”, một cậu lính trinh sát đồng hương Nam Định rỉ tai: “sắp có đánh lớn ở đây rồi”.

Nụ cười Thành cổ

Đánh liều, tôi bỏ dở chuyến công tác đi Hạ Lào để nằm lại chờ tác nghiệp. Chỉ 2 ngày sau, chiến dịch Đường 9 - Nam Lào bắt đầu. Hàng trăm tấn bom đạn của Mỹ được trút xuống vùng đất quanh sông Sê Pôn, cộng cùng đó là những  đợt đổ quân của lính Việt Nam Cộng hòa. Hơn chục ngày tại đó, tôi may mắn là phóng viên chiến trường có mặt sớm nhất trong điểm nóng của chiến dịch. Những loạt ảnh phóng sự lập tức được đăng tải trên báo Quân đội nhân dân, khiến cái tên Đoàn Công Tính bắt đầu được biết tới nhiều hơn.

Rồi, cơ hội chụp những bức ảnh về chiến dịch Quảng Trị 1972 cũng đến với tôi một cách khá may mắn. Bắt đầu chiến dịch, tôi được biết chủ trương của miền Bắc là giải phóng Huế. Trước khi vào mặt trận, tôi còn cẩn thận tìm tới gặp nhà văn Thanh Tịnh - vốn từng là hướng dẫn viên du lịch tại Huế - để hỏi về kiến trúc và văn hóa của đất Cố đô. Tới Quảng Trị khi thị xã đã được giải phóng, tôi biết tin chiến dịch tấn công Huế sẽ không diễn ra nên lập tức quay về Hà Nội để chuyển những bức ảnh của mình. Rồi lại lập tức ngược về Quảng Trị, nằm ở bờ bắc sông Thạch Hãn gần chục ngày trước khi có dịp vào thành cổ giữa lúc trận chiến đấu đang diễn ra khốc liệt nhất.

Số phận may mắn, khiến tôi trở thành phóng viên duy nhất của cả hai phía có mặt trong Thành cổ vào những ngày lịch sử ấy. Bây giờ, nhắm mắt lại, tôi vẫn nhớ như tạc vào óc nụ cười tươi như hoa của những chiến sĩ bảo vệ Thành cổ trong buổi sáng hôm ấy. Họ trẻ lắm, đều trên dưới đôi mươi và hồn nhiên tới không ngờ...

“Tôi vẫn nợ Quảng Trị rất nhiều”

Ngồi với TT&VH, nghệ sĩ nhiếp ảnh Đoàn Công Tính khá ưu tư khi nhắc tới chuỗi thời gian sau 1972. Năm 1975, ông bỏ lỡ cơ hội có mặt trong chiến dịch Hồ Chí Minh vì lý do rất đơn giản: đang đi học tại trường Đảng Nguyễn Ái Quốc nên không được đưa vào danh sách phóng viên chiến trường.

“Là người cầm máy, tôi buồn lắm vì không có dịp được làm nghề trong thời điểm lịch sử này”.
 
Rồi sau giải phóng, nghệ sĩ Đoàn Công Tính chuyển ngành, vào Nam công tác tại một phòng văn hóa quận và xin về hưu sớm ở tuổi 45.

Gần chục năm làm đủ nghề: nuôi chim cút, đào ao thả cá rô phi, chụp ảnh dạo rồi đi lang thang làm nghề chụp ảnh lưu niệm tại các tỉnh phía Nam, Đoàn Công Tính vẫn dành thời gian chụp những bức ảnh về cuộc sống thường nhật của một Việt Nam trong thời kì hòa bình. Rồi từ 1997, những cuộc triển lãm của Đoàn Công Tính bắt đầu được tổ chức lại, từ trong nước cho tới Mỹ, Thụy Điển, Hàn Quốc. Tất nhiên, những bức ảnh chụp chiến tranh của Đoàn Công Tính vẫn được phía trưng bày ưa chuộng nhất. Về phần mình, ông bảo “tôi vẫn còn nợ Quảng Trị rất nhiều”.


Chiêu Minh (ghi)

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN