TT&VH tiếp tục đối thoại với nhà báo Hồ Quang Lợi - Trưởng ban Tuyên giáo Thành uỷ Hà Nội, đồng thời là nhà bình luận, chính luận hàng đầu của nền báo chí Việt Nam đương đại - về công cuộc xây dựng văn hoá thủ đô hiện đại.
(TT&VH) -“Hà Nội trong chuyến tàu điện thở rít lên/Hà Nội trong tách café pha nghiêm túc/Hà Nội phiêu du qua trang sách dưới đèn mờ giờ mở ti vi/Hà Nội của những thi sĩ cuồng thơ của những người yêu thơ thầm lặng” (Hà Nội nhìn từ phía tôi, 1983, Thanh Thảo).
Hà Nội gần 30 năm trước, thời bao cấp khốn khó mà vẫn giàu tình người và chất thơ. Còn hiện tại?
TT&VH tiếp tục đối thoại với nhà báo Hồ Quang Lợi - Trưởng ban Tuyên giáo Thành uỷ Hà Nội, đồng thời là nhà bình luận, chính luận hàng đầu của nền báo chí Việt Nam đương đại - về công cuộc xây dựng văn hoá thủ đô hiện đại.
* Thưa nhà báo Hồ Quang Lợi, ông có ngại nói về văn hoá Hà Nội, khi ông là người Nghệ An?
- 33 năm nghiệp cầm bút cũng là số năm tôi gắn bó với thủ đô. Tôi sinh ra tại làng khoa bảng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An, quê gốc họ Hồ Việt Nam. Từ khi nào, Hà Nội đã tác tạo tâm hồn tôi, tôi thuộc về đất này bằng tình yêu máu thịt.
Người ta nói nhiều đến khái niệm “Hà Nội gốc” là có 3 - 4 đời sống liên tục ở đây, lại phải là dân “36 phố phường” mới đích thị “người Hà Nội” (tiếng Pháp là Hanoien). Không phải ai có hộ khẩu thì mặc nhiên là “người Hà Nội”, hộ khẩu là xác nhận công dân thủ đô, về quản lý dân cư. Để thực sự là người Hà Nội, mỗi người phải vươn lên, rèn luyện nếp thanh lịch, văn minh từ lời nói, nếp sống, tri thức, văn hóa.
Nhà báo Hồ Quang Lợi (phải) và GS Phan Huy Lê chụp tại đảo Tháp Rùa
mùa Thu 2011, khi đi kiểm tra việc cứu chữa cụ Rùa
* Xét về thành phần dân cư, ở Hà Nội lúc này, nông dân đông hơn trí thức. Vậy TP sẽ phát triển theo hướng nào?
- Biểu tượng của Hà Nội là Khuê Văn Các. Sao Khuê là sao văn chương. Địa linh nhân kiệt, coi là “dân tứ chiếng” thì cũng là chốn hội tụ nhân tài. Đã về đây, ánh sáng kinh thành nâng người ta lên, cũng bắt người ta phải tự bọc “lớp men” đạt chuẩn sĩ phu Bắc Hà, là người đang sống đất thủ đô. Hà Nội coi trọng gìn giữ, phát triển văn hoá, theo xu thế Việt Nam phấn đấu đến 2020 là nước công nghiệp, chú ý nâng cao kinh tế.
Theo kế hoạch, sắp tới, Hà Nội sẽ xây dựng sàn giao dịch công nghệ và thiết bị, công viên khoa học, vườn ươm công nghệ, có khu tin học thông tin, đào tạo và hợp tác quốc tế về KHCN.
* Hà Nội sẽ làm gì để thu hút nhân tài?
- Từ 2010, TP đã tôn vinh công dân ưu tú đợt 1 là GS Vũ Khiêu, GS Ngô Bảo Châu… Năm 2011, là nhà văn Tô Hoài, nhạc sĩ Phạm Tuyên, GS Phan Huy Lê… 2/3 số công dân được tôn vinh là trí thức, nghệ sĩ và một số nhà hoạt động văn hoá. Đó là những người ưu tú nhất trong nhiều người ưu tú.
Nếu Hà Nội của ta có nhiều người ưu tú, văn hoá Thăng Long sẽ phát sáng bền vững. TP cần có những quyết sách thu hút nhân tài: môi trường làm việc, thái độ trân quý, chính sách đãi ngộ, nhất là chấm dứt tình cảnh người tài phải sống nghèo khổ. Trong nhân dân và các cấp lãnh đạo, không ít người vẫn cho rằng, nghệ sĩ chỉ cần tinh thần. Phải thay đổi nếp nghĩ ấy. Nghệ sĩ cần có đời sống sung túc. Đừng để chuyện cơm áo choán hết thời gian, cướp đi sức lực, không còn tâm trí để sáng tạo.
Tôi rất xót xa khi Nhà nước chưa có chế độ mới về nhuận bút, khen thưởng, hỗ trợ các văn sĩ, dịch giả. Thật bất công khi ca sĩ hát vài bài cầm mấy chục triệu, còn nhạc sĩ không được gì hoặc nhận số tiền bèo bọt. Xác lập lại hệ giá trị sáng tạo trong xã hội, Hà Nội có chủ trương thu hút trí thức, Việt kiều, người nước ngoài về làm việc tại thủ đô.
* Vâng, bốn phương hội tụ về Thăng Long ngàn năm nay. Ông có tin Hà Nội vẫn vững bền là nơi tụ quần tinh hoa, dù Hà Nội chưa giàu có hay đãi ngộ nhân tài được bằng TP. HCM, Đà Nẵng?
- Từ 1070, Văn Miếu Quốc Tử Giám – công trình sớm và tiêu biểu nhất của TL – Hà Nội được xây dựng, với nguyên lý dựng nước Hiền tài là nguyên khí quốc gia, đã khiến kinh đô này thành nơi quy tụ trí tuệ và nhân tài cả nước.
Trải qua nhiều triều đại, Hà Nội vừa là Kẻ Chợ, kinh đô, vừa là Trường Thi, tiếp xúc với các nền văn minh bên ngoài; trầm tích thành một đặc trưng không nơi nào có, để hình thành tinh hoa của riêng mình, cũng là tinh hoa tiêu biểu của cả nước. Văn hoá Thăng Long chưng cất, là lõi vàng của văn hiến Việt Nam.
Qua nhiều triều đại, lớp lớp những người con ưu tú nhất đều gắn bó máu thịt, dựng nghiệp tại đất này. Còn đây hào khí tổng đốc Nguyễn Tri Phương (1880 -1873, người Huế), tổng đốc Hoàng Diệu (1829 – 1882, người Quảng Nam) lẫm liệt kiên trung. Hai vị tổng đốc đầu tiên của Hà Nội đều là người miền Trung và đều là anh hùng hy sinh vì Hà Nội.
Đất Thăng Long còn là quê hương của danh tướng Lý Thường Kiệt, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu - những tên tuổi lẫy lừng. Khí quyển Hà Nội hợp bởi cơ man danh sĩ và vô số tài danh các thời đã chọn thủ đô toả sáng. Tôi tin Hà Nội là nơi phát sáng lâu dài trong vai trò kinh đô văn hoá.
* Ngày nay, chưa nhiều các tác giả xuất sắc và tác phẩm gây dư chấn về Hà Nội. Những đợt sáng tác nhân các lễ kỷ niệm hay vận động, ồ ạt rồi lắng xuống. Bao giờ có lại một “góc” Nguyễn Tuân?
- Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Tô Hoài (nhà văn), Sỹ Tiến (nhà sân khấu) là những người con của Hà Nội, các nhân vật kỳ biệt. Nhân dân, xã hội đang chờ lớp nhân tài mới. Văn hoá là dòng sông mà lịch sử là sự kế tiếp.
Tài năng không phụ thuộc vào phong trào. Thời đại này đủ yếu tố để những tài năng, tâm huyết phát lộ, sáng tạo nên các tác phẩm tăng thêm chi lưu cho văn hoá thủ đô - chủ lưu dòng chảy văn minh sông Hồng, văn hiến Việt. Mỗi nghệ sĩ sáng tạo là kiến trúc sư văn hoá. Lãnh đạo Hà Nội sẽ chú ý, tạo điều kiện hơn cho sáng tạo VHNT.
* Hà Nội, trong cảm nhận của ông, ngày mai cần phải thế nào? Người yêu Hà Nội sẽ kinh ngạc vì mất tiếp các công trình cổ?
- Hà Nội hiện đại vẫn cần duyên dáng như một yêu cầu, tiêu chí bắt buộc trong quy hoạch và xây dựng các công trình.
Không, chúng tôi cố gắng để những người yêu Hà Nội đang ở đây và từ xa trở về sẽ được ngỡ ngàng về những di sản vẫn bảo tồn trước sự tấn công ồ ạt của sóng công nghiệp hoá. Chúng ta giữ được tâm hồn nhờ cảnh quan. Đừng để la liệt mọc những công trình ngộp thở. Sự lãng mạn không bao giờ đến từ những khối nhà đen trũi, rừng bê tông ngất ngưởng. Nhiều ao hồ tại Hà Nội đã bị xoá sổ. Thật đau khi không kịp cứu các hồ! Một số sông đã chết hoặc nghẹt rác, chật hẹp.
* Hà Nội được mệnh danh là “TP cây hồ”, liệu có hồ nào sẽ mất nữa không, thưa ông?
- Người ta đã lấp nhiều ao hồ để xây nhà, vĩnh viễn mất đi một số tấm gương vô giá của thiên nhiên. Hà Nội đã có quy định nghiêm túc chống lấn chiếm, ô nhiễm hồ, nạo vét hồ sông, ngăn chặn cưa chặt cây bừa bãi. Trung tâm địa linh là hồ Gươm được chăm chút kỹ cùng chiến dịch gìn giữ các hồ trong nội thành.
Năm ngoái, hơn 20 hồ Hà Nội được cứu sống. Ở các huyện xã, lãnh đạo TP khó “với hết”. Phải chỉ thị, tuyên truyền giữ phong cảnh làng dù đô thị hoá. Sự gia tăng dân số luôn là thách thức lớn của những không gian thanh bình nếu không quyết liệt bảo vệ và có quy hoạch đồng bộ. Cứu, giữ các không gian êm đềm là giữ bình yên cho triệu tâm hồn.
Riêng hồ Tây, hồ Trúc Bạch, tôi khẳng định, không thể bị lấn 1 mét nào nữa.
* Một chiều đầu tháng 4, theo dốc 27 Xuân Diệu xuống, tôi tưởng chạy qua “bãi cọc Bạch Đằng” vì hàng nghìn cọc tre cắm chi chít ven hồ Tây chạy suốt hơn 1km về phía phủ . Hỏi ra thì dân bảo, đó là người ta cắm cần câu cá rô (câu trộm). Lấn mặt nước cũng là lấn chiếm.
- Vậy sao? Cảm ơn đã cho tôi biết việc này. Công ty Cá hồ Tây quản lý trực tiếp việc khai thác ở đây. Cảnh quan hồ không thể thành “bãi cần câu” như vậy.
* Ở Hà Nội, ông yêu nơi nào nhất?
- Tôi thích dạo vỉa hè 3 hàng cây đường Phan Đình Phùng, về phía Hồ Tây. Thật tuyệt con đường yên tĩnh lá vàng rơi qua vai, ngọn gió mơn man thoảng hương cốm hương hoàng lan trong tâm tưởng. Trong những cây cầu Hà Nội, tôi yêu quý nhất Long Biên; mỗi lần qua cây cầu 100 năm này, tôi luôn xao xuyến.
Tôi yêu hồ Tây - một vùng văn hoá huyền thoại mở ra mênh mông dưới sương mờ bảng lảng gió sông Hồng thổi. Hồ Tây gần Kẻ Bưởi, bao quanh là các làng nghề, làng hoa. Tôi rất phẫn nộ khi làng đào Nhật Tân bị huỷ diệt.
Mỗi lần qua hồ Tây, tôi lại nhớ Bà huyện Thanh Quan Nguyễn Thị Hinh (1805 - 1848), người con gái Nghi Tàm thi tài hiếm có đang yên nghỉ cùng chồng - ông Lưu Nguyên Ôn ở đất Phú Thượng, cũng là làng hoa. Lại nhớ bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương (1772 - 1822), người phụ nữ tài sắc xuất chúng thời phong kiến, sinh trưởng từ làng Quỳnh Đôi, Nghệ An quê tôi, giờ mộ nằm trong lòng Dâm Đàm Lãng Bạc.
Và vẳng lên bài thơ thất ngôn tứ tuyệt của thi hào Nguyễn Trãi và giai nhân Nguyễn Thị Lộ: “Thiếp ở Tây Hồ bán chiếu gon / Cớ chi ông hỏi hết hay còn/ Xuân xanh vừa độ trăng tròn lẻ/ Chồng còn chưa có hỏi chi con”. Họ đối đáp thơ thất ngôn tứ tuyệt bên hồ Tây mà nên vợ chồng. Nguyễn Thị Lộ là Lễ nghi học sĩ, có công nuôi dưỡng hoàng tử lúc sơ sinh (sau lên ngôi vua, Lê Thánh Tông giải oan cho họ).
* Theo ông, Hà Nội có giữ được những giá trị tinh hoa đặc thù không, trước sự xâm lấn ồ ạt của tốc độ đô thị và những biến động thời cuộc?
- Ngay cả lúc bấn bíu mưu sinh, người yêu Hà Nội chưa bao giờ vô tình với Hà Nội. Tôi tin tưởng sâu sắc, vượt qua những khó khăn kinh tế, người Hà Hội sẽ biết gìn giữ và bồi tụ vẻ đẹp, linh hồn chốn thiêng liêng này.
Hà Nội sẽ được gìn giữ bằng những tình yêu khác nhau, bằng di truyền văn hoá. Di truyền văn hoá không chỉ là thư tịch, chứng tích, lịch sử, di sản mà trong tâm hồn, tình yêu truyền đời của mỗi người yêu Hà Nội, cho con cháu, thế hệ kế tiếp đời mình.
* Chúng tôi cũng hy vọng thế. Trân trọng cảm ơn ông về cuộc đối thoại thú vị này.
Khánh Hiển (thực hiện)