Không sai, những điều kinh khủng vẫn còn xảy ra, nhưng cũng có những điều bạn hiếm khi nghe thấy nếu chỉ xem truyền hình: Thế giới thực sự đang tốt đẹp hơn.
(TT&VH Cuối tuần) - Không sai, những điều kinh khủng vẫn còn xảy ra, nhưng cũng có những điều bạn hiếm khi nghe thấy nếu chỉ xem truyền hình: Thế giới thực sự đang tốt đẹp hơn.
Đỡ chết chóc hơn
Đánh bom xe ở Afghanistan và Iraq, nội chiến ở Libya và Syria, nhìn vào tin tức quốc tế, bạn có thể hãi hùng vì các cuộc chiến dường như ở khắp nơi, nhưng trên thực tế, theo một số học giả, tần suất và sự tàn phá của chiến tranh đã giảm rất nhiều kể từ cuộc chiến thảm khốc nhất lịch sử loài người - chiến tranh thế giới thứ hai.
Theo giáo sư John Mueller, Chủ nhiệm khoa an ninh quốc tế Đại học bang Ohio, Columbus, số cuộc chiến giữa các nước công nghiệp phát triển từ năm 1945 là zero. Con số này rất đáng chú ý vì trong nhiều thế kỷ đã qua, các cường quốc luôn coi chiến tranh là một phương tiện có thể chấp nhận để giải quyết các mâu thuẫn. Đó là những mối quan hệ giằng xé và các cuộc chiến Pháp - Phổ - Áo - Anh kéo dài suốt thế kỷ 16 và 17 cũng như hai cuộc thế chiến kinh hoàng trong thế kỷ 20.
![]() Một cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Afghanistan, một trong những cuộc chiến lớn và thảm khốc nhất còn đang diễn ra, nhưng đã giảm nhiều về quy mô so với quá khứ |
Không chỉ chiến tranh tổng lực, các hình thức chiến tranh khác cũng đã giảm thiểu, theo giáo sư Steven Pinker của Đại học Harvard. Đánh giá của ông, dựa trên các bằng chứng thống kê, cho thấy bạo lực vũ trang đã suy giảm đáng kể. Những cuộc chiến giữa các quốc gia từ sau 1945 được chia làm ba giai đoạn, theo giáo sư Pinker, gần như trùng hợp với các cuộc chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam và chiến tranh Iran - Iraq. Kể từ sau chiến tranh lạnh, số cuộc chiến giữa các quốc gia đã giảm mạnh. Mức độ tàn phá của chiến tranh cũng đỡ kinh hoàng hơn.
“Trong năm 1950, số người thiệt mạng trung bình vì một cuộc xung đột vũ trang dưới bất cứ dạng nào là khoảng 33.000. Năm 2007, con số này giảm xuống còn khoảng 1.000 người”, Pinker viết trong cuốn sách vừa xuất bản về chiến tranh của ông. Pinker cho rằng không như nhiều người e ngại bản chất của con người là tàn ác, có vẻ như những thiên thần tốt đẹp trong chúng ta đang chiến thắng, sự cảm thông, tự kiềm chế, cảm giác đạo đức và đạo lý đã trở thành những giá trị phổ cập hơn, giúp con người giảm bớt khuynh hướng bạo lực.
No đủ hơn
Đã 11 năm trôi qua kể từ khi Liên Hiệp Quốc đặt ra mục tiêu thiên niên kỷ nhắm tới việc giảm một nửa tình trạng nghèo khổ cùng cực trên toàn cầu vào năm 2015. “Hai phần ba các nước đang phát triển đang trên đường đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ”, báo cáo “Theo dõi toàn cầu 2011” của Ngân hàng Thế giới (WB) bắt đầu với nhận xét đó. Số người sống với mức thu nhập ít hơn 1,25 USD/ngày dự kiến là 883 triệu vào năm 2015, so với 1,4 tỉ trong năm 2005 và 1,8 tỉ trong năm 1990, theo thống kê của WB.
Hầu hết sự tiến bộ trong việc chống lại nghèo đói bắt đầu từ hai người khổng lồ đang lên: Trung Quốc và Ấn Độ. Trong số những nước hiện đạt được mục tiêu giảm một nửa số người nghèo cùng cực hoặc sẽ làm được điều đó vào năm 2015 còn có Campuchia, Cộng hòa Trung Phi, Ethiopia, Ghana, Kenya và Mauritania.

Một gia đình nghèo khổ Ấn Độ. Những cảnh tượng như thế này đang ngày càng ít đi
WB giải thích rằng chính sách khôn ngoan liên quan đến kiểm soát ngân sách và đồng tiền nội địa cũng như giá cả hàng hóa cơ bản tăng đã giúp tăng thu nhập cho người dân ở các nước nghèo vốn dựa chủ yếu vào xuất khẩu.
Tăng trưởng kinh tế trở thành nền tảng cho các tiến bộ khác. Lương thực là điều dễ thấy nhất. Khi những người nghèo nhất có nhiều tiền hơn, họ sẽ chi cho lương thực nhiều hơn. Thật vậy, thế giới đang trên đường giảm một nửa tình trạng thiếu ăn trầm trọng cũng chính ở những nơi mà đói nghèo đang giảm. Khoảng 45% các nước đang phát triển đã đạt được mục tiêu này, và 33% nữa đang tiến gần đến mục tiêu.
Tăng trưởng kinh tế cũng có lợi cho giáo dục. Một trong những mục tiêu thiên niên kỷ với các nước đang phát triển là tạo ra chỗ học tập cơ bản cho tất cả trẻ em trong nước. WB cho biết 83%các nước đã đạt được, hoặc tiến rất gần tới cột mốc đó.
Bình đẳng hơn
Trên toàn cầu, quyền lực của phụ nữ đang gia tăng, cả về con số tuyệt đối và khi so sánh tương đối với nam giới. Cũng trong báo cáo của WB, ở nhiều nước đang phát triển, số phụ nữ biết đọc đã tăng hơn và trình độ giáo dục của họ đã tiến gần tới trình độ của nam giới.
Hiện phụ nữ chiếm 40% lực lượng lao động trên thế giới, 43% lao động trong nông nghiệp và hơn một nửa số sinh viên các trường đại học. “Trong thế giới toàn cầu hóa hiện giờ, các nước sử dụng kỹ năng và năng lực của phụ nữ sẽ có lợi thế so với những nước không làm như thế”, Revenga, đồng giám đốc Báo cáo phát triển 2012 của WB, nói.
Một bé gái đi học tiểu học ở Yemen, tỷ lệ các bé gái - bé trai tham gia giáo dục cơ bản đã gần như tương đương trên toàn thế giới |
Năm 2003, Liên minh châu Phi (AU) đã thông qua một nghị định thư về nữ quyền, “Nghị định thư Maputo”. Trong 53 nước châu Phi, 46 nước đã ký nghị định này, khẳng định quyền tham gia chính trị và bình đẳng xã hội của phụ nữ, cùng nhiều quyền khác. Ba mươi nước ký đã phê chuẩn nghị định thư. Trước đó, năm 1994, tất cả các nước Mỹ Latin đã ký một hiệp ước Tổ chức các nước châu Mỹ ngăn chặn bạo lực đối với phụ nữ. Kể từ đó, 28 nước đã thông qua đạo luật riêng về chống bạo hành với phụ nữ. Ngày nay, Saudi Arabia là quốc gia duy nhất chính thức hạn chế quyền bầu cử của phụ nữ.
Về giáo dục, sự cân bằng đã đạt được trong lĩnh vực giáo dục cơ bản. Ở châu Phi, vùng hạ Sahara, tỷ lệ bé gái - bé trai đến trường tiểu học là 91-100 vào năm 2008, tăng so với mức 85-100 vào năm 1999. Ở cấp hai, số bé gái đã vượt qua số bé trai ở khoảng một phần ba các nước đang phát triển. Ở bậc đại học trên toàn cầu hiện nay, số sinh viên nữ đã nhiều hơn nam. “Sự có mặt nhiều hơn của phụ nữ ở giáo dục bậc cao cho thấy sự gia tăng nhu cầu các công việc đầu óc thay vì chân tay ở một thế giới toàn cầu hóa”, báo cáo của WB giải thích.
Về y tế, tuổi thọ trung bình của nữ giới tăng từ 54 vào năm 1960 lên 71 vào năm 2008, cao hơn một chút so với nam giới. Điều đó là nhờ vào tỷ lệ sinh đã giảm mạnh trong vài thập kỷ qua, từ mức 5 ca sinh trên một phụ nữ vào năm 1960 xuống còn khoảng 2,5 ca vào năm 1980. Điều này giúp các gia đình tập trung nguồn lực nuôi con và cho phụ nữ cơ hội gia nhập lực lượng lao động. Khoảng cách giới tính trong lực lượng lao động cũng giảm một cách vững chắc. Từ 1980 tới 2008, tỷ lệ phụ nữ không làm việc ở nhà đã tăng từ 50,2% lên 51,8%. Con số nói trên ở nam giới đã giảm, từ 82% xuống còn 77%.
Hải Minh (tổng hợp)