thethaovanhoa.vn

Gọi vong lên… ảnh

24/02/2012 07:46 GMT+7

Phương pháp rửa ảnh từ âm bản ra giấy vừa được William Fox Talbot phát minh ra năm 1860 thì đã có một loạt học trò của ông vượt thầy - họ không những chỉ làm ảnh, mà còn chụp được cả người đã khuất.


(TT&VH Cuối tuần) - Thế kỷ 19 đánh dấu một loạt phát minh kỹ thuật vang động, tạo gia tốc cho nền văn minh loài người như ô tô, tàu thủy chạy hơi nước, tia phóng xạ, điện thoại... Nhưng ở đâu có ánh sáng thì ở đó có bóng tối: phương pháp rửa ảnh từ âm bản ra giấy vừa được William Fox Talbot phát minh ra năm 1860 thì đã có một loạt học trò của ông vượt thầy - họ không những chỉ làm ảnh, mà còn chụp được cả người đã khuất, với điều kiện phải trả giá cao.

Hồng hoang của photoshop

Lẽ ra có thể coi đó là một bức chân dung đẹp: nhà văn lừng danh, cha đẻ của nhân vật Sherlock Holmes, chững chạc ngồi nghiêm với hàng ria thép, mắt nhìn ra xa xăm, mắt kính long lanh trên ngực. Chỉ một lỗi nhỏ làm hỏng cả bức hình: trên vai trái của Sir Arthur Conan Doyle lấp ló khuôn mặt mờ ảo của ai đó, với nụ cười khó hiểu và thân hình lấp trong màn sương mờ ảo.

Sir Arthur Conan Doyle và bức ảnh có hình vong con mình

Chụp ảnh ngày đó không chỉ là một công nghệ phức tạp mà còn là một cuộc tra tấn khách hàng vì họ phải giữ nguyên tư thế trong mấy phút liền (trước khi nghĩ ra bột ma-nhê để đốt làm chớp). Nhưng Arthur Conan Doyle không than vãn hoặc khiếu nại bắt chụp lại tấm hình, mà còn hết lời cảm tạ nghệ sĩ nhiếp ảnh William Hope đã cho ông thấy lại đứa con vừa hy sinh trong Thế chiến I trước đó hai năm. Arthur Conan Doyle với chuỗi tiểu thuyết về thám tử Sherlock Holmes thì ai cũng biết, nhân vật của ông - hay chính ông - có một tư duy logic sắc lẹm như dao, vậy mà oái oăm thay, chính ông lại là nạn nhân của tay thợ mộc nghiệp dư William Hope, kẻ từng vỗ ngực dùng ống kính để cho hơn 2.500 người chết “hiện hồn”.

Để gỡ tội cho văn sĩ danh tiếng, phải nói thêm là công nghệ nhiếp ảnh ngày ấy còn quá non nớt để người trần mắt thịt nhận thấy các bức ảnh của William Hope đều từa tựa như nhau. Bao giờ phía trên nhân vật được chụp cũng có một khuôn mặt mờ ảo choàng khăn hay phủ khói, và bao giờ người chết cũng vừa khuất núi chưa lâu, đủ để khả năng tự kỷ ám thị thúc đẩy lòng tin vừa nhìn thấy thân quyến của mình... Thừa thắng xốc tới, William Hope còn sáng lập ở thành phố quê hương Crewe một câu lạc bộ tâm linh để nghiên cứu ảnh chụp vong. Người đời tin vào hắn, vì không ai hình dung nổi là ảnh chụp lại có thể nói dối! Trong tiếng Anh, chữ “objective” để chỉ ống kính quang học lắp trước máy ảnh (objective lens) cũng đồng nghĩa với “khách quan”!

Khách quan và chủ quan

Chẳng qua chỉ là một hy vọng siêu hình được gửi gắm vào ống kính, những mong rằng nó “nhìn thấy” nhiều hơn là mắt thường của con người bị vây hãm trong vòng duy lý, rồi “ghi lại”. Ngày ấy ở châu Âu đang thịnh hành thuyết Thông linh, cho rằng con người hoàn toàn có khả năng giao tiếp với thế giới bên kia, ít nhất là những “siêu nhân” như William Hope. Khoa học càng phát triển mạnh mẽ thì nhu cầu lý giải những hiện tượng siêu nhiên cũng phát triển theo. Mấy trò đẩy chén, đung đưa quả lắc, gọi hồn, chụp ảnh vong... trở thành phong trào rầm rộ, từ Mỹ lan qua châu Âu rồi đi khắp địa cầu, không bỏ qua cả mấy biệt thự bỏ hoang của Đà Lạt hôm nay.

Đôi khi một số điều ngẫu nhiên lại tiếp sức cho các mẹo làm tiền trên lưng người mê tín. Một thợ khắc kim hoàn người Boston là William H.Mumler có nghề chụp ảnh tay trái. Năm 1861, một hôm vắng khách hắn tự chụp ảnh và nhìn thấy bên cạnh mặt mình một khuôn mặt mờ ảo khác trên ảnh. Mumler không hề tin vào thuyết Thông linh, đơn giản là hắn nhận ra khuôn mặt đó thuộc về cô em họ qua đời trước đó 12 năm. Kiểm tra kỹ, hắn phát hiện đó là một tấm kim loại cũ phủ chất cảm quang đã qua sử dụng nhưng không được rửa kỹ. Mumler đủ ranh giảo để không kể cho ai biết. Hắn lập tức bỏ nghề và từ đó trở đi chỉ vận hành cỗ máy in tiền tên là “chụp ảnh vong“ bằng các tấm kim loại được chiếu sáng hai lần. Năm 1869 Mumler chuyển hẳn đến New York để mở một cửa hiệu hoành tráng hơn. Khách hàng rầm rập đổ đến, họ phải trả cho mỗi tấm ảnh 10 dollar (giá trị khoảng 150 dollar hôm nay).

Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã bắt những hiện tượng vô hình vô ảnh phải hiện ra. Một khi nhìn thấy cả các khúc xương bị che kín trong cơ thể thì tại sao lại không chụp được cả hồn người?

Ma cải trang

Thế kỷ 19 đang đi vào đoạn chót, và từ 1895, khi Conrad Roentgen phát minh ra tia X mà ta vẫn dùng trong máy chiếu điện hôm nay thì cuộc chơi ra tiền của các doanh nghiệp “Hope & Mumler“ tưởng như không còn giới hạn. Đối với các tín đồ của các hiện tượng siêu nhiên thì không có gì phải bàn cãi: tiến bộ khoa học kỹ thuật đã bắt những hiện tượng vô hình vô ảnh phải hiện ra. Một khi nhìn thấy cả các khúc xương bị che kín trong cơ thể thì tại sao lại không chụp được cả hồn người?

Theo gương Hope và Mumler còn có Edward Wyllie và Alex Martin ở Mỹ, Jean Buguet ở Pháp, tất cả đều dùng mẹo chụp ảnh nhiều lần đè lên nhau (dân trong nghề còn gọi là kỹ thuật “chồng phim“), thậm chí còn vẽ thêm lên phim trước khi rửa ảnh. Vài kẻ còn dùng một mẹo khác là cho trợ lý trùm khăn chạy qua sau lưng khách hàng. Như đã nói, thời gian chiếu sáng kéo dài cả phút và khách phải ngồi bất động, do đó không có gì khó khăn để bố trí “diễn viên phụ“ nhẹ chân tham gia sau lưng khách. Ngay cả một số nhà khoa học cũng chịu mắc lỡm. James Coates, một nhà nghiên cứu người Scotland nổi tiếng, phát biểu năm 1911: “Hoàn toàn không thể nghi ngờ là những tấm ảnh đó được làm ra một cách chân thực“. Cuốn sách giáo khoa Photographing The Invisible của ông phân tích hơn một chục bức ảnh vong, là luồng gió thổi căng cánh buồm của đám lừa đảo trong phòng tối. Rồi Thế chiến I nổ ra, kéo theo một hiệu ứng phụ là nhiều gia đình bỏ cả núi tiền để mong được gặp lại người thân đã ngã xuống ngoài chiến hào, dù chỉ trên ảnh.

Một lúc nào đó, cây kim trong bọc cũng lòi ra. Một số “vong hồn“ trên ảnh của Mumler bị nhận ra là còn sống sờ sờ ở ngay Boston. Người ta còn nghi Mumler khoét ngạch vào nhà vừa có người chết để trộm ảnh. Năm 1869 Mumler phải ra hầu tòa. Thợ chụp vong Buguet người Pháp cũng chịu số phận tương tự: cảnh sát khám hiệu chụp ảnh và phát hiện ra mấy con búp bê quấn khăn liệm, râu giả và hàng trăm ảnh mặt người đủ lứa tuổi được cắt dán lên bìa. Buguet không thể giải thích sao cho lọt tai quan tòa và phải bóc lịch một năm. Trường hợp “chiến sĩ tiên phong“ William Hope thì khó nhằn hơn. Nhà khoa học Harry Price ở Viện nghiên cứu các hiện tượng cận tâm lý Anh phải cải trang đi dự một buổi gọi hồn và đưa cho Hope mấy tấm kim loại phủ chất cảm quang đã được bí mật đánh dấu bằng tia X-quang. Sau khi nhận được các ảnh “vong”, ông chứng minh rõ ràng là Hope đã đánh tráo các tấm kim loại làm ảnh, vì các tấm ảnh có màu khác, mỏng hơn và nhất là không có đánh dấu bằng tia Roentgen.

Lê Quang

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN