Đối với bất cứ dân tộc nào cái bếp cũng là quan trọng. Nó không chỉ là nơi nấu ăn, mà còn là nơi tụ họp gia đình, trẻ con vui chơi, chó mèo sưởi ấm.
(TT&VH) - 1. Đối với bất cứ dân tộc nào cái bếp cũng là quan trọng. Nó không chỉ là nơi nấu ăn, mà còn là nơi tụ họp gia đình, trẻ con vui chơi, chó mèo sưởi ấm. Tùy thời tùy nơi mà cái bếp khác nhau trong căn nhà của một gia đình. Vắng đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bà quạnh bếp, là câu tục ngữ của người Việt nói lên vị thế của người đàn ông và người đàn bà trong gia đình. Nhà và bếp có ý nghĩa tinh thần nhiều hơn.
Với người Mường cổ cái bếp là thành phần tối quan trọng với một bếp lớn cho phụ nữ nấu ăn và một bếp nhỏ chỉ dành cho đàn ông đun trà tiếp khách. Cái bếp lớn với một dàn treo hai tầng, nơi phơi hóng đồ đan, phơi cá và ngô cùng vài thực phẩm thiết yếu. Nền bếp được nêm đất nện tránh lửa giây ra sàn, xung quanh kè ván gỗ, đôi khi người ta làm cả những băng ghế cho mọi người có thể ngồi quanh bếp.
Bếp của người Mông vùng Cán Cấu (Bắc Hà, Lào Cai). Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn
Người nông dân đồng bằng dựng căn bếp như một nhà ngang sát nhà chính, gian gần nhà chính là làm bếp, rồi kho nông cụ, chuồng trâu và chuồng gà vịt, tất cả liền nhau thành một dãy. Cây rơm và kho thóc (nếu có) thì tách rời khu vực này. Mùa Đông khói lửa trong bếp sẽ sưởi ấm cho gia súc, xua đuổi ruồi muỗi, gác treo trong bếp cũng chất nhiều nông cụ và ít giống má nào đó. Người ta quàng vào đó vài quang treo, treo nồi cơm ăn không hết, nồi cá kho cho bữa sau. Vùng Phú Thọ nhà trên đồi cao, nhà bếp cũng thành dãy thấp xuống theo sườn đồi, chuồng gà thấp hẳn đến đầu người, người ta đứng trên nền bếp cao vãi thóc cho gà vào mùa Đông vì phải thả chúng muộn tránh sương giá.
Theo một truyền thuyết cổ, với rất nhiều khảo dị về mối tình tay ba giữa một người vợ với ông chồng cũ và mới. Người chồng cũ bỏ đi lâu ngày, cô vợ bèn lấy người khác, sau này, chồng cũ trở về như một gã ăn mày vô tình chết cháy ở bếp. Cô vợ thương tình nhảy vào lửa. Người chồng sau đau khổ cũng nhảy vào lửa nốt. Ông trời thương cho ba kẻ chung tình và oan trái nên hóa họ thành thần bếp, cũng gọi là Táo quân, hằng năm trước dịp Tết phải lên trời báo cáo việc nhân gian. Dân gian từ đó nặn ba ông đầu rau bằng đất kê nồi cũng tượng trưng cho ba người trên, ngoài nấu bếp thì rất trân trọng ba cục đất hình chân kiềng đó. Bên cạnh ông đầu râu người ta còn nặn con dấm hình vuông, to bằng hai viên gạch hình. Đêm tối khi chuẩn bị đi ngủ, người ta cho trấu vào một đĩa sành, một cục than hồng và đặt con dấm lên trên, lửa được giữ trong đó đến sáng cũng đồng thời tỏa ra làn khói hun muỗi.
2. Thơ Đường có câu: Thái bình bản vô tượng/Thảo xá xuy yên phủ - Câu này nghĩa là Cảnh thái bình vốn không có hình tượng/(Hãy nhìn) Làn khói xanh trườn trên mái nhà tranh. Câu thơ này vốn đề trên bức tranh Ngũ ngưu đồ (Năm con bò) của họa sĩ kiêm nhà thơ Hàn Hoảng, ý ông muốn nói thế nào là cảnh thái bình thì thật khó nói, chỉ có nhìn làn khói xanh trườn trên mái nhà tranh vào lúc chiều tà người ta có thể có cảm giác về sự thanh bình.
Cảnh tượng này vốn không xa lạ ở ta vài chục năm về trước khi làng xã còn nguyên sơ, nông dân vẫn thường đun bằng rơm rạ trong cái bếp nhà tranh vách đất của mình. Lúc chiều tối, trâu bò về chuồng, gà vịt nhớn nhác, trẻ con quấn quít bên bà thái chuối cho lợn, bên mẹ nấu cơm trong bếp, người ra đồng về để cuốc vào chái nhà, vắt áo lên xào ngang, chuẩn bị cho một bữa tối trên chõng tre ngoài sân.
Đun rơm rạ, đun củi, đun than, nấu bếp điện và cuối cùng là bếp ga, cái bếp gia đình Việt cũng thay đổi theo nhịp sống công nghiệp. Thời đầu hòa bình (1954), nhiều gia đình ở chung trong một ngôi nhà Hà Nội dùng một bếp chung, nhà tắm chung, bể nước chung, nhà vệ sinh cũng chung như vậy, nên thường bất tiện và không sạch sẽ cho lắm. Sau đó dù có chật, nhà vệ sinh cố gắng được đưa vào từng gia đình, kiêm luôn nhà tắm, cái bếp chung cũng được giải tán, mỗi nhà một vài bếp lò than tổ ong, hoặc bếp dầu, bếp điện có mang xách. Người ta nấu nướng vạ vật bất cứ chỗ nào, trong nhà, ngoài ngõ, vỉa hè, lan can gác.
Cái bếp của người phương Tây là một hình ảnh mới, thường được xây rất to, đôi khi ngay phòng khách đã hấp dẫn người Việt. Người ta vừa tiếp khách, vừa trò chuyện, nấu ăn. Trong cái bếp này đủ bàn ghế, lọ hoa, dàn cốc chén, tủ bát đĩa nồi niêu, tủ lạnh, lò vi sóng, lò quay nướng bánh và bếp đun ga, đun điện, đôi khi chúng được xây như quầy hàng. Tất nhiên cái bếp hiện đại này chỉ có ở những nhà cao cửa rộng, biệt thự và chủ yếu ở thành thị. Ở nông thôn, cái bếp không nhất thiết được xây tách nhà chính như trước, nhưng cũng được cải tiến sạch sẽ với nơi rửa rau cỏ, nơi đun, tủ lạnh, chạn bát và bàn ăn liền kề.
Chắc chắn cái bếp còn thay đổi, vì càng ngày nó càng được chú trọng trong sinh hoạt gia đình, ngay cả những ai sống độc thân. Có vẻ như cái bếp được nâng lên tầm văn hóa, như ăn uống trở thành nghệ thuật ẩm thực. Ăn cho khỏi chết và ăn cho ra con người vẫn còn một khoảng cách khá lớn, nhất là cái vực thẳm giàu nghèo ngày càng rộng ra.
Phan Cẩm Thượng