Raymond Verheijen tin rằng việc thiết lập một chế độ tập luyện theo chu kỳ với những tính toán khoa học chặt chẽ sẽ cho phép các đội bóng bảo vệ tài sản quý giá nhất của họ, những cầu thủ.
(TT&VH Cuối tuần) - Gần 40 năm sau khi những huyền thoại Hà Lan Rinus Michels và Johan Cruyff giới thiệu bóng đá tổng lực trước sự kinh ngạc và thán phục của cả thế giới, một người Hà Lan khác đang cố gắng xây dựng triết lý bóng đá cho riêng ông, nhưng là ở trong ngành khoa học về thể thao.
![]() Raymond Verheijen, chuyên gia thể lực nổi tiếng người Hà Lan - Ảnh Getty |
Raymond Verheijen tin rằng việc thiết lập một chế độ tập luyện theo chu kỳ với những tính toán khoa học chặt chẽ sẽ cho phép các đội bóng bảo vệ tài sản quý giá nhất của họ, những cầu thủ, cũng như luôn cho ra sân đội hình mạnh nhất và nhờ thế, tăng cơ hội chiến thắng. Nếu như trước kia, các chuyên gia thể lực ở những đội bóng chỉ được đơn giản biết đến như những “nhân viên y tế” chẳng làm gì khác ngoài việc cáng các cầu thủ ra sân mỗi khi họ chấn thương hoặc xịt thuốc giảm đau, thì ngày nay, bóng đá chuyên nghiệp ở cường độ cao, lịch thi đấu dày đặc và khoản doanh thu khổng lồ đã làm thay đổi hoàn toàn điều đó.
Nhiều đội bóng hàng đầu có bộ phận phụ trách riêng về thể lực với các tiến sĩ y khoa danh tiếng, được trả lương cao ngất và khoa học thể thao đã trở thành một phần quan trọng, thậm chí là quyết định, đối với thành công của một câu lạc bộ. Verheijen, 39 tuổi, là một trong những gương mặt tiên phong. Ông có một bản lý lịch công việc ấn tượng, từng làm việc với Guus Hiddink, Frank Rijkaard, Louis van Gaal và Dick Advocaat ở ba kỳ World Cup và ba kỳ EURO với các đội tuyển Hà Lan, Nga và Hàn Quốc. Ở cấp câu lạc bộ, Rijkaard sử dụng Verheijen khi ông làm huấn luyện ở Barcelona, Hiddink cũng thế tại Chelsea, còn Advocaat tin dùng ông tại Zenit St. Petersburg. Cựu huấn luyện viên Manchester City, Mark Hughes, cũng đã viện đến sự giúp đỡ của Verheijen vào đầu mùa giải 2009-2010, giúp ông đưa Craig Bellamy trở lại sân cỏ vào lúc sự nghiệp của tiền đạo người xứ Wales tưởng chừng như phải chấm dứt.
“Mục tiêu của triết lý chu kỳ là luôn ra sân với 11 cầu thủ giỏi nhất”, Verheijen nói với BBC Sport trong một cuộc phỏng vấn sau một hội thảo về khoa học thể thao. “Thứ nhất vì bạn muốn chiến thắng và thứ hai vì các cổ động viên xứng đáng được đối xử như thế”. Trên thực tế, điều đó không dễ dàng, dù hiện 70% các đội bóng ở Premier League sử dụng những phần mềm y học phức tạp trên máy tính để đo đếm phong độ và mức mệt mỏi của các cầu thủ. Một ví dụ, trang web physioroom.com chuyên theo dõi các chấn thương ở Premier League vào cuối tuần ngày 4 và 5/12/2010 ghi nhận 108 ca chấn thương của các cầu thủ ở những đội bóng hạng cao nhất nước Anh. Tính trung bình, mỗi đội bóng có 5,4 cầu thủ, hay hơn một phần năm trong danh sách đăng ký 25 người, dính chấn thương. Dẫn đầu là Aston Villa và Tottenham, với 11 cầu thủ phải điều trị khi các trận đấu đang diễn ra.
Và không chỉ có ở Anh. Cuối tuần 20 và 21/11/2010, 124 cầu thủ không thể ra sân ở Serie A vì chấn thương. Inter Milan chẳng hạn, tính đến cuối năm 2010, họ đã có 37 ca chấn thương, đồng nghĩa với việc các cầu thủ dính chấn thương đã bỏ lỡ tổng cộng 68 trận đấu. Với Verheijen, những con số kiểu đó là không thể chấp nhận. Ông tin rằng 80% các ca chấn thương là có thể ngăn chặn được, thông qua việc theo dõi tình trạng thể lực và cường độ tập luyện của các cầu thủ. Đó là lý do tại sao 14 trong số 23 cầu thủ trong đội hình Hà Lan tham dự World Cup 2010 sau đó đã dính chấn thương vào mùa giải trước. “Những người tham dự World Cup bắt đầu mùa bóng không ở trong tình trạng thể lực như những người được nghỉ ngơi”, Verheijen, mà chính sự nghiệp cầu thủ của ông bị đứt gánh giữa đường vì một chấn thương lưng, khẳng định. “Nên chế độ luyện tập là cực kỳ quan trọng để kiểm soát nguy cơ chấn thương. Cần phải có một tầm nhìn dài hạn, thay vì vắt kiệt sức các cầu thủ để rồi đến cuối tuần có ai thì dùng người đấy”.
Verheijen, có bằng A huấn luyện của Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA), cũng cho rằng quá nhiều huấn luyện viên thể lực không xuất thân từ việc chơi bóng nên không hiểu đầy đủ mối quan hệ giữa luyện tập và chuẩn bị. “Không nên coi các trận đấu là kết thúc của quá trình tập luyện như hiện nay, mà là khởi đầu. Huấn luyện viên xây dựng lịch tập trên cơ sở như vậy có nhiều cơ hội giúp các cầu thủ phục hồi và đá trận sau trong tình trạng thể lực khỏe mạnh”, Verheijen phân tích.
Bellamy là một ví dụ sống. “Mùa trước ở Manchester City tôi đã hồi phục rất tốt nhờ Verheijen”, tiền đạo người xứ Wales nói. “Trong quá khứ tôi thường tập cho đến khi mệt lả. Không khó hiểu vì sau tôi dễ dính chấn thương như vậy. Ban đầu tôi tưởng đó là do lối chơi của tôi, nhưng phần quan trọng là bởi chế độ tập luyện”. Cả Bellamy và Carlos Tevez từng chỉ trích huấn luyện viên Roberto Mancini gay gắt vì lịch tập quá căng thẳng của ông. Những gì hai tiền đạo này thể hiện trên sân cho thấy họ chắc chắn không phải là kiểu cầu thủ lười nhác và sự than phiền của họ là có lý. Chỉ 10 ngày sau khi Mancini nhận công việc từ tay Hughes vào tháng 12/2009, Joleon Lescott, Sylvinho, Roque Santa Cruz, Stephen Ireland, Shaun Wright-Phillips, Micah Richards và Nigel De Jong đều dính chấn thương. “Vấn đề không phải là số lượng, mà là chất lượng của việc tập luyện”, Verheijen kết luận.
Thành tích của Verheijen World Cup 1998: Hà Lan vào bán kết, hậu vệ Winston Bogarde gẫy chân khi tập luyện. EURO 2000: Hà Lan vào bán kết, hậu vệ Jaap Stam chấn thương dây chằng khi tập luyện. World Cup 2002: Hàn Quốc vào bán kết, không dính chấn thương nào. EURO 2004: Hà Lan vào bán kết, không dính chấn thương nào. World Cup 2006: Hàn Quốc bị loại ở vòng bảng, không dính chấn thương nào. EURO 2008: Nga vào bán kết, tiền đạo Pavel Pogrebniak dính chấn thương trong trận giao hữu trước giải với Serbia. World Cup 2010: Hàn Quốc vào vòng 16 đội, trung vệ Kwak Tae Hwi dính chấn thương trong trận giao hữu trước giải với Belarus. |
Trần Trọng