thethaovanhoa.vn

Nước Việt của bà ngoại

14/06/2011 08:07 GMT+7

Cuốn "Văn minh vật chất của người Việt" (tác giả Phan Cẩm Thượng) như thể nhiều câu chuyện, của nhiều bà ngoại khác nhau cho những đứa cháu thị thành.

(TT&VH Cuối tuần) - Cuốn Văn minh vật chất của người Việt (tác giả Phan Cẩm Thượng) như thể nhiều câu chuyện, của nhiều bà ngoại khác nhau cho những đứa cháu thị thành.

Bà ngoại bao giờ cũng gắn với đứa trẻ nhiều nhất trong nhà, chỉ sau mẹ, mặc cho dân tộc vẫn cứ tiếp tục truyền thống trọng nam, coi đứa trẻ mới sinh hưởng phúc nhà nội. Chuyện xửa xưa, vì thế, cũng phần lớn do bà ngoại kể. Nhờ thế, đứa trẻ 7X là tôi vẫn còn được nghe rất nhiều câu chuyện canh nông của bà. Bất kể đêm ngày, những khi như thế, bà ôm tôi vào lòng mắt nhìn ra bể nước công cộng góc sân tập thể bằng xi măng rồi rỉ rả. Phần lớn điều bà nói, tôi nhớ rất rõ dù “thiếu phần hình” cho tới khi nghỉ hè về quê “cầu tõm” và ráp chúng lại với thực tế.

Cầu tõm - lúc đó vốn là điều gì thật buồn cười có pha chút xấu hổ, đặc biệt khi bố cứ rỗi rãi lại lôi ra trêu mẹ. Nhưng xứ cầu tõm của bà ngoại lại nhiều chuyện hay một cách màu nhiệm, đa dạng và nghiêm chỉnh. Chẳng hạn, đang đi cấy, tự dưng giẫm phải cái gì trơn trơn, trượt trượt thì phải chụp ngay và lật ngửa nó ra. Con ba ba đấy. Hết buổi cấy, mang về nấu khẩn trương với chuối xanh ngay cho kịp bữa trưa. Ăn mát người, mà ngọt thỉu. Nghe xong, quên luôn chuyện tõm tõm hơi buồn cười, hơi xấu hổ kia…

Tôi cũng gặp lại trong sách của họa sĩ Phan Cẩm Thượng Văn minh vật chất của người Việt những câu chuyện dông dài, đượm mùi bếp rơm và lối tự cung tự cấp như thế cả, tuy vùng văn hóa ông phủ trong sách rộng lớn hơn. Nó trải khắp vùng đồng bằng sông Hồng và sông Mã. Đại để, chung sống với sự ngập nước không chỉ dẫn đến chuyện “tõm tõm”. Nó còn dẫn đến nước da nâu bóng như tráng lên đó lớp màng ni-lông nâu bóng giúp tránh đổ nhiều mồ hôi để không bị cảm nắng. Rồi ra, nó lại cũng dẫn đến chứng khó tiêu. Và từ đó, người Việt ít ăn đồ mỡ, hay dùng đồ luộc, thanh nhẹ. Văn ông Thượng viết có chút sảng khoái nhưng vẫn thâm trầm rỉ rả. Như ông tự nhận, chính là giọng kể của một bà già, một bà ngoại chăng?

Ông Thượng cũng mổ xẻ nhiều tập quán riêng có của người Việt, để minh chứng rằng dân tộc mình độc lập lắm. Qua nhiều thăng trầm, tuy không tránh được ảnh hưởng, nhưng ta cũng không giống người Tàu nhiều đến như nhiều người tưởng. Điều này, trong sách, ông phân tích bằng lời, và cả qua minh họa. Ví thử, cái cày của người Trung Hoa có độ vồng lên để người phương Bắc cúi thấp lưng cày trên bình nguyên rộng trồng tiểu mạch, đại mạch. Còn người Nam ta lại giống như hớt đất, bắp cày cao, người cày đứng thẳng lưng. Chuyện cày bừa được mô tả, vì thế, không chỉ quan trọng ở hạt lúa củ khoai mà còn là chuyện sản sinh văn hóa, giữ gìn truyền thống…

Sự khẳng định bản ngã văn hóa Việt trong “những câu chuyện của bà ngoại” này do đó rất quan trọng. Theo một cảnh báo của UNESCO, tiếp tục sử dụng từ Indochina, nhiều nhà nghiên cứu tiếp tục cho rằng ở Đông Nam Á lục địa nói chung, Việt Nam nói riêng, các cư dân chỉ góp nhặt và nhào trộn những yếu tố của hai nền văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa chứ hoàn toàn không có bản sắc riêng.

Quan trọng hơn nữa, nhiều nhà nghiên cứu phỏng đoán, với lối kể “bà ngoại” này, sách sẽ rất thích hợp với trẻ nhỏ, đặc biệt là đối tượng học sinh phổ thông.

Kiều Trinh


Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN