thethaovanhoa.vn

V-League sau 10 năm lên chuyên: Vật vã đi tìm bản ngã

02/02/2011 07:07 GMT+7

Năm 2011 là mùa giải chuyên nghiệp chính thức đầu tiên của bóng đá Việt Nam (BĐVN) sau 10 năm thử nghiệm.

(TT&VH) - Năm 2011 là mùa giải chuyên nghiệp chính thức đầu tiên của bóng đá Việt Nam (BĐVN) sau 10 năm thử nghiệm. 10 năm là quãng đường rất dài, phải nói là vật vã mong thoát khỏi cái xác bao cấp, của những người làm BĐVN.

Những cánh én

Nếu để liệt kê ra những tín hiệu tích cực của bóng đá chuyên nghiệp (BĐCN) sau 10 năm, thì đầu tiên phải kể đến số lượng khán giả đã chịu khó đến sân. 1.510.128 người, trung bình: 8.297 người/trận, con số đó là khả quan trong mùa giải 2010. Đấy là nền tảng để phát triển BĐCN, cho dù đây từng là điều khiến người ta rất lo lắng bởi BĐVN trong 10 năm qua đã gặp nhiều biến cố khiến niềm tin bị giảm sút nghiêm trọng, như vụ cầu thủ, trọng tài nhúng chàm, bị bắt hàng loạt năm 2005. Ngay từ khởi đầu mùa giải 2011, V-League đã đón nhận bản hợp đồng tài trợ có giá trị kỷ lục 90 tỷ đồng trong ba mùa giải liên tiếp (2011-2013), mỗi mùa giải 30 tỷ đồng từ Eximbank.

Ở bất cứ lĩnh vực nào, nếu nghề nghiệp đó không mang lại những giá trị vật chất tốt, thì khó thúc đẩy đam mê, sự tiến triển tích cực. Quả bóng bây giờ đã mang lại nguồn thu nhập rất cao so với mặt bằng nghề nghiệp khác. Một cầu thủ trong độ tuổi U21 chỉ cần có chất một chút thì giá trị chuyển nhượng tiền tỷ không khó. Điều đó tạo cảm hứng mạnh mẽ đối với cầu thủ trẻ. Cái danh “quần đùi, áo số” với ý nghĩa đàm tiếu đã bị đẩy lùi vào dĩ vãng. HLV cũng vậy, chỉ riêng phong trào đi học làm thầy rầm rộ hiện nay đã nói lên sự thực rằng cái nghề này đã sống khỏe. HLV nội có tài cũng đã được trọng dụng, lương cả trăm triệu mỗi tháng không còn gây sửng sốt. Về năng lực cũng vậy. Đã có 5 HLV nội đăng quang, cân đối với thành tích thầy ngoại: Nguyễn Thành Vinh cùng SLNA (1999-2000, 2000-2001), Phạm Huỳnh Tam Lang (CSG 2001-2002), Lê Thụy Hải (B.BD 2007, 2008), Lê Huỳnh Đức (SHB.ĐN 2009), Phan Thanh Hùng (HN.T&T 2010).


Với việc đưa HN.T&T đoạt chức vô địch V-League 2010, HLV Phan Thanh Hùng đã giúp các HLV nội cân đối với thành tích của thầy ngoại ở V-League. Ảnh: VSI

Những nỗi đau

Trong 10 năm lên chuyên, chúng ta đã lần lượt chứng kiến quá nhiều tên tuổi lẫy lừng bị khai tử, trong đó, trường hợp của Thể Công là để lại nhiều day dứt nhất, và đến nay đã thực sự biến mất. Tất cả đã để lại một sự hụt hẫng không biết bao giờ mới bù đắp nổi.

Những cuộc sụp đổ đầu tiên chỉ là sự ghép tên theo xu hướng doanh nghiệp hóa. Thế nhưng, ở phần lớn những mối duyên này, doanh nghiệp chỉ coi việc gắn bó với bóng đá như một phương thức quảng cáo, sau đó vì đủ thứ lý do, họ mau chóng rũ bỏ đội bóng. Dần dần, sau vài ba lần thay đổi phiên hiệu, đội bóng đã bị mất bản sắc. Bây giờ, một đội bóng sống khỏe hay yếu phụ thuộc vào ông chủ (hay doanh nghiệp). Mà đã kinh doanh thì sự rủi ro là không tránh khỏi. Xét yếu tố này, hiện này còn quá ít đội bóng có thể khẳng định sẽ phát triển bền vững. Có chăng, mới chỉ ông Đoàn Nguyên Đức thể hiện được thiện chí thật sự với bóng đá Gia Lai, khi đổ cả núi tiền vào xây dựng cơ sở hạ tầng, sửa sang sân Pleiku, mở học viện bóng đá.

Khi có cảm giác việc sang tên, đổi chủ một đội bóng dễ như thay áo thì có nghĩa con số những cái tên truyền thống bị khai tử ở chặng đường phía trước vẫn còn. Bóng đá chuyên nghiệp không có nghĩa là phải thủ tiêu hết những cái gì thuộc về quá khứ, nhất là quá khứ lẫy lừng. SLNA là đội duy nhất hiện vẫn giữ được cái tên truyền thống.

Lẽ đời, một anh nông dân đùng một cái có tiền thì rất khó kiểm soát bản thân, bởi họ không quen ứng xử hợp lý khi một lúc có quá nhiều tiền. Có thể lấy đó là hình ảnh của BĐVN trong thời kỳ quá độ. Sẽ không quá lời khi bảo rằng 10 năm qua là thời đại kim tiền, đồng tiền bị coi là yếu tố tiên quyết, đứng trên cả những giá trị khác mà bóng đá chuyên nghiệp đòi hỏi. Chưa có CLB nào có lãi. Số cầu thủ bị ma lực đồng tiền quyến rũ rồi sa ngã rất nhiều. Vào sân, tinh thần lên hay xuống phụ thuộc vào tiền thưởng, thay vì phải có trách nhiệm đá phục vụ khán giả mua vé đến xem. Tất cả các CLB đều phải bước vào cuộc chạy đua thưởng vô tội vạ. Thị trường chuyển nhượng điên đảo với những cái giá không thực tế. Tiếc rằng, vai trò của VFF quá mờ nhạt trong dòng chảy kim tiền.


Đội bóng Thể Công lừng lẫy một thuở bây giờ chỉ còn là ký ức. Ảnh: VSI

Đó chỉ là một trong vô vàn bất cập về công tác quản lý, tổ chức, điều hành, của VFF. Sau 10 năm, đã có 6 đời Trưởng giải (Ngô Tử Hà, Trần Duy Ly, Dương Nghiệp Khôi, Nguyễn Hữu Bàng, Trần Quốc Tuấn, nay là Dương Nghiệp Khôi), trong đó một vị bị “sa thải” giữa dòng vì liên quan đến bạo loạn sân Vinh năm 2008. Có một điểm chung, các ông “Trưởng” vẫn không kiểm soát được giải đấu, nhất là độ trong sạch. Xử lý kỷ luật thiếu nhất quán, nghiêm minh, vì thế mà không ngăn được vấn nạn bạo lực sân cỏ và khán đài đang leo thang, và cũng không mang lại niềm tin trọn vẹn cho những người tham gia cuộc chơi. Đỉnh điểm là mùa giải 2010, việc Navibank.Sài Gòn được phù phép từ chết rồi thành sống lại đã khiến sự bức xúc của dư luận lên đỉnh điểm. Rõ ràng, khi BTC chưa chuyên nghiệp và chưa thực sự “sạch”, thì làm sao là tấm gương để các CLB noi theo trong hành trình gian khó làm bóng đá chuyên nghiệp?

Nội soi chuyên môn

Nếu nhìn lại thời bao cấp và mùa giải 2000-2001, không thể phủ nhận rằng chuyên môn của V-League đã có một bước tiến dài. Càng ngày, các đội bóng đã được đầu tư nhiều tiền hơn, kể cả đội được coi là nghèo, đã tạo nên một không khí đua tranh quyết liệt, nhất là 3 mùa giải qua.

Sự manh nha của hình ảnh một CLB bóng đá chuyên nghiệp, xét dưới góc độ chuyên môn, có thể tính từ mùa giải 2003, khi HA.GL đăng quang hai mùa liên tiếp với những chỉ số vô cùng thuyết phục, với một đội hình khủng có tính khai phá thị trường chuyển nhượng. B.BD (2007, 2008) và SHB.ĐN (năm 2009) cũng cho thấy vị thế và hình ảnh của một nhà vô địch. Thế nhưng, bên cạnh đó, hai ngôi vô địch của ĐT.LA cũng đáng băn khoăn. Lý do, so với nhiều đội ở V-League, họ không mạnh bằng. Thậm chí, cả 2 mùa họ còn chấp các đối thủ cả 5 trận để rồi chỉ lật ngược tình thế ở lượt về. Điều làm nên khác biệt của “Gạch” thời điểm đó, là một tổ chức tốt, tinh thần tốt cùng HLV biết truyền lửa cho các học trò.

Đến mùa giải 2010, lịch sử đã bắt đầu đảo lộn khi SHB.ĐN đã không còn đăng quang lần thứ 2 liên tiếp như B.BD, ĐT.LA hay HA.GL từng làm trước đây. Thay vào đó, là một thất bại thảm hại, toàn diện khiến người ta choáng váng về một đội bóng từng đoạt vô số kỷ lục năm 2009, nhất là khi sự sa sút của SHB.ĐN không nằm ở vấn đề chuyên môn.

Việc HN.T&T đã vượt qua hàng loạt tên tuổi để đăng quang cũng không gây nên bất ngờ. Bởi, ngay từ đầu mùa dư luận đã lờ mờ cảm nhận được ngôi vô địch khó thoát khỏi tầm tay đội bóng này. HN.T&T đã phải lao động rất nhiều, họ hoàn toàn xứng đáng nhận thành quả đó. Có điều, nhìn những chỉ số cuối cùng về chuyên môn, cùng việc các đối thủ chính yếu thay nhau ngã ngựa đã khiến cho HN.T&T không được coi là biểu tượng của V-League. Thậm chí, chức vô địch của HN.T&T còn bị chê như một bước thụt lùi của V-League. Nếu không duy trì được khát khao, đặc biệt cơ chế tiền thưởng bạo như năm 2010, thì với lực như thế này, việc bảo vệ thành công ngôi vô địch là điều rất khó với đội bóng của bầu Hiển.

Mùa giải 2011, bản lề của bóng đá chuyên nghiệp thực thụ đã cận kề. 10 năm là một bước tiến rất dài với giải chuyên. Đã có rất nhiều cái giá đắt mà chúng ta đã phải trả trong thời quá độ. Tiếc rằng, VFF đã dành thời gian quá ít để mổ xẻ mọi vấn đề, họ chỉ gói gọn tổng kết 10 năm chuyên nghiệp trong một buổi.

Nếu ví sự vận động của BĐCN như một đoàn tàu, thì trước hết, VFF và các ban bệ giải chuyên phải là đầu tàu. Hay nói cách khác, họ phải thực sự chuyên nghiệp, phải tạo được niềm tin cho những người tham gia cuộc chơi cũng như dư luận cả nước.

Thử hỏi 10 năm qua, họ đã làm được điều đó chưa?

HỮU QUÝ

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN