
Số phận chiếc máy bay dành cho chiến tranh nguyên tử
B-1 Lancer được xem là mẫu máy bay “xương sống” trong Không lực Mỹ. Nhưng mới đây báo chí nước này loan tin giới chức lãnh đạo quân đội đã nhóm họp để tính chuyện cho loại máy bay này về hưu.
(TT&VH) - B-1 Lancer được xem là mẫu máy bay “xương sống” trong Không lực Mỹ. Nhưng mới đây báo chí nước này loan tin giới chức lãnh đạo quân đội đã nhóm họp để tính chuyện cho loại máy bay này về hưu. Sự việc đã thu hút sự chú ý của người dân Mỹ cũng như giới quan sát quân sự thế giới.Những thăng trầm quanh số phận “cục xương” Mặc dù có tên chính thức là “Lancer” (Kỵ binh đấu giáo), các tổ lái B-1 không bao giờ gọi chiếc máy bay của họ bằng biệt danh này. Thay vì thế họ dùng từ “Bone” (Cục xương). Nguồn gốc biệt danh này vẫn còn gây tranh cãi, nhưng có tin khi mới xuất hiện, phóng viên một tờ báo Mỹ đã nghe nhầm hai từ trong tên máy bay (B-ONE) thành một và đem đăng báo. Cái tên này nhanh chóng được các phi công B-1 sử dụng. Lịch sử của “cục xương” gắn liền với nhiều thăng trầm sóng gió. Nó bắt đầu được triển khai từ năm 1969, dưới thời Tổng thống Richard Nixon. Chương trình nghiên cứu B-1A dẫn tới sự ra đời của 4 mẫu máy bay thử nghiệm và đã có lúc người ta lên kế hoạch sản xuất 240 chiếc B-1A. Về tổng quát, mẫu B-1A có tầm hoạt động tương tự với chiếc B-52, trong khi chứa nhiều điểm ưu việt hơn. Do có khả năng bay thấp, hệ thống dẫn đường tốt hơn và thiết kế hấp thụ sóng radar khiến máy bay có khả năng tránh khỏi nguy cơ bị tên lửa tấn công tốt hơn. Nó cũng tăng cường khả năng tẩu thoát trước máy bay tiêm kích của đối phương do có tốc độ cao.
Một chiếc B-1B đang thử nghiệm khả năng ném bom chùm
Dù ưu việt nhưng do chi phí tăng cao, cộng với việc người Nga đã cho ra đời loại máy bay MiG-31 có khả năng tiêu diệt dễ dàng những máy bay như B-1A khi hoạt động tầm thấp, đã khiến chính quyền Jimmy Carter hủy bỏ chương trình vào tháng 6/1977. Nhưng khi Reagan đắc cử Tổng thống, ông đã cho khôi phục chương trình nghiên cứu B-1. Hàng loạt các thay đổi đã được tiến hành trên mẫu B-1A để nó phù hợp hơn với nhiệm vụ mới, dẫn tới việc ra đời mẫu B-1B. Các thay đổi này gồm việc giảm tốc độ tối đa, thay đổi hình dáng để tăng khả năng tàng hình, cải thiện tốc độ bay ở tầm cao thấp, tăng tải trọng mang bom để đương đầu với tiêm kích MiG-31 và các máy bay có khả năng khóa mục tiêu. Liền sau đó, 100 chiếc B-1B đã được sản xuất trong 6 năm trời, với chiếc cuối cùng được giao vào tháng 5/1988. Thiết kế để mang vũ khí hạt nhân Lịch sử chiếc B-1 Lancer được tạo ra để đương đầu với một cuộc chiến tranh hạt nhân với Liên Xô. Vì thế, khi chiến tranh lạnh kết thúc, vai trò của B-1 bỗng trở thành một dấu hỏi lớn. Dù Lầu Năm Góc khẳng định vẫn duy trì cái gọi là “bộ ba hạt nhân”, với khả năng tấn công hạt nhân thông qua tàu ngầm, tên lửa đặt trên mặt đất và máy bay ném bom, nhưng những chiếc B-1 từ lâu đã không còn được đảm nhận nhiệm vụ kiểu đó. Thay thế cho nó là mẫu máy bay tàng hình B- 2 và mẫu B-52 cổ lỗ. Do được thiết kế ban đầu để tham gia chiến tranh nguyên tử, B-1 phải mất nhiều thời gian để chuyển đổi thành máy bay ném bom thông thường. Vào cuối những năm 1994, với việc nâng cấp lên Block D, những chiếc B-1 đã ném được đủ loại bom có và không điều khiển. 8 mấu treo được bố trí bên ngoài thân máy bay có thể được lắp đặt các loại bom dẫn đường bằng công nghệ laser Paveway, tên lửa đánh chặn không đối đất AGM-137 TSSAM và cả tên lửa không đối không để sử dụng khi bị máy bay chiến đấu của đối phương truy đuổi. Đổi lại, những chiếc B-1B giờ không còn mang vũ khí hạt nhân và không còn khả năng tấn công hạt nhân từ năm 1995 do việc gỡ bỏ các phần cứng giúp điều khiển vũ khí hạt nhân. B-1B lần đầu được sử dụng trong chiến tranh vào tháng 12/1998, trong chiến dịch Cáo sa mạc chống lại quân đội Iraq. Năm 1999, 6 chiếc B-1 lại được sử dụng trong chiến dịch Lực lượng Đồng minh để oanh kích Kosovo, và chịu trách nhiệm ném hơn 20% số bom đạn. Kế hoạch “về hưu non” chỉ là tin đồn? Dù hoạt động hiệu quả như vậy, song tương lai của B-1 đang gặp khó khăn. Không lực Mỹ muốn cho toàn bộ 66 chiếc B-1 còn lại về hưu để đạt chỉ tiêu giảm chi phí quân sự khoảng 100 tỷ USD trong vòng 5 năm. Nguyên nhân do chi phí bảo trì và hoạt động của B-1 quá lớn. Số liệu do Tổng cục Thống kê Mỹ cung cấp hồi năm 2001 cho thấy mỗi giờ bay, chiếc máy bay này tiêu tốn 15.818 USD. Tuy nhiên những nhà quan sát cho rằng đây có thể chỉ là tin đồn. Bill Ehrie, cựu chỉ huy Căn cứ không quân Dyess, nơi có bố trí một lượng lớn B-1, tuyên bố “sẽ không có khả năng B-1 về hưu non”. Đó là chưa kể tới việc quyết định của Không lực Mỹ sẽ vấp phải sự phản đối của Quốc hội. Có thể thấy điều này qua tuyên bố của nghị sĩ Mỹ John Thune: “Xóa sổ hoặc giảm số lượng phi đội B-1 sẽ chỉ là một sai lầm khủng khiếp và là điều tôi phản đối, đặc biệt khi nước Mỹ đang tham gia vào hai cuộc chiến và đối diện với đủ loại nguy cơ de dọa trên toàn cầu”.
Tường Linh
Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN