thethaovanhoa.vn

Những người mang ánh sáng cho chốn thâm u

02/01/2010 08:51 GMT+7

Chúng tôi đến Mường Lát vào buổi chiều muộn, lòng ngổn ngang với những ý nghĩ về chốn rừng thiêng nước độc. Nhưng thị trấn Mường Lát hiện ra trước mắt với ánh điện sáng trưng, không còn tệ nạn ma tuý và tội phạm như trước nữa.

(TT&VH) - Chúng tôi đến Mường Lát vào buổi chiều muộn, lòng ngổn ngang với những ý nghĩ về chốn rừng thiêng nước độc. Nhưng thị trấn Mường Lát hiện ra trước mắt với ánh điện sáng trưng, không còn tệ nạn ma tuý và tội phạm như trước nữa.

Những người con ưu tú vẫn đang tận tâm với vùng sơn cước này đã xoá đi những thâm u, tăm tối vốn có ở nơi đây.  

11 năm chuyển mình từng ngày

Năm nay, Mường Lát đã sang tuổi thứ 12 kể từ ngày tách ra từ huyện Quan Hóa, hơn 30.000 đồng bào của 7 dân tộc anh em (Thái, Mông, Mường, Dao, Khơ Mú, Kinh, Hoa) đã vượt khó, sát cánh cùng nhau xây dựng cuộc sống mới no ấm hơn. Tuy nhiên, không cán bộ và người dân nào quên được ngày mới tách huyện, khó khăn trăm bề, chòm bản nào cũng đói giáp hạt phải lên rừng đào củ mài, hái rau dại ăn trừ bữa. Dịch bệnh hoành hành dữ dội, có năm chỉ riêng bệnh sốt rét đã cướp đi sinh mệnh hàng chục đồng bào...

Bí thư Huyện ủy Mường Lát, ông Hà Văn Duyệt hài hước: “So với 12 năm trước chúng tôi như được ở thiên đường. Mường Lát nổi tiếng là vùng đất nghèo đói, lạc hậu, rừng núi hoang vu, khí hậu khắc nghiệt. Ngày mới lập huyện, đến trụ sở làm việc của huyện còn phải ở tạm nhà dân, vậy mà điện lưới quốc gia giờ đã phủ 7/8 xã, đường giao thông thuận lợi, trường học, trạm y tế khang trang, điện thoại, Internet... Mường Lát cách Quan Hoá 60 km nhưng ngày đó đi ô tô cũng mất một ngày. Trên ô tô bao giờ cũng có sẵn xẻng, xà beng, đòn kê… dự phòng. Con đường đất dốc lên khúc khuỷu, chỉ cần có sương đêm đã khiến xe ô tô đi như bò cũng bị trượt bánh.

Bí thư Huyện ủy Mường Lát Hà Văn Duyệt


Đất lâm nghiệp được giao tới từng hộ, người dân biết bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng. Những khu rừng bị cạn kiệt sức sống do dân chặt phá đốt đi làm nương nay đã trở nên xanh tốt. Người dân biết quý trọng, gìn giữ các nghề truyền thống như chế biến lâm sản, dệt thổ cẩm.

Ở các xã Mường Chanh, Mường Lý, Pù Nhi nhiều gia đình đã có phương tiện nghe nhìn, mua được xe máy. Người dân đã biết cách phát triển trồng trọt, chăn nuôi, quan tâm đến việc học hành của con cái. Trước đây, cứ 20 người dân trong huyện mới có 1 người biết chữ, nay cứ 4 người dân thì có 1 người đi học.

Ông Lâu Văn Chá, dân tộc Mông, Trưởng bản Pù Toong, xã Pù Nhi hồ hởi: “Ngày trước, người Mông chúng tao bị cái thuốc phiện mê hoặc, chặn lối đến trường. Nhưng mấy năm trước chúng tao đã nhổ hết cây thuốc phiện, trồng lúa ngô ăn. Con em ở Pù Toong không còn phải ngửi hơi thuốc phiện, lớn lên là đến trường học cái chữ. Pù Toong đã có một người học đại học, 2 học cao đẳng và 4 người trung cấp đấy, có cả người làm cán bộ xã, cán bộ huyện”.

Những ngày gian khó

Xoá bỏ những hủ tục lạc hậu như gọi hồn, lên đồng, yểm bùa, để xác chết lâu ngày trong nhà, chôn không áo quan, trừ tà, đánh bạc, hút thuốc phiện, uống rượu say, đẻ nhiều... là công việc đầu tiên cán bộ huyện Mường Lát phải làm sau khi tách huyện. Với nhiệm vụ này, ông Phạm Bá Sáng, Chánh văn phòng Huyện uỷ Mường lát đã nói rất hình ảnh là “khó như lên trời”.

Ông Phạm Bá Sáng kể lại: “Ngày ấy, xã Pù Nhi vẫn còn tới 10 bản chưa có đường giao thông, phải đi bộ theo đường mòn. Từ huyện đến bản cao của xã thường mất cả ngày trời. Chúng tôi phải dậy từ mờ sáng, cơm nắm, lương khô lên đường nhưng cũng chỉ đủ ăn một hai ngày. Sau đó thì ăn cùng dân nhưng quý lắm người Mông cũng chỉ lo cho ăn được hai đến ba ngày là hết gạo. Có lần đến ngày thứ ba ở bản Pù Tong thì trời mưa, đường trơn không về được, chủ nhà nói với chúng tôi là: “Nhà tao hết gạo, hết sắn rồi” rồi cho hai túm lúa nói: “Cán bộ giã lấy mà ăn”. Thế là người thì đi dân vận, người ở lại giã lúa”.

Dệt thổ cẩm, nghề truyền thống giúp nhiều người dân Mường Lát thoát nghèo


Kỷ niệm mà ông Hà Văn Duyệt nhớ là lần đi dân vận đến bản Mông Hai, xã Mường Lý. Nơi đó, có 13 hộ sống trên núi cao. Ông đến hộ giàu nhất là nhà trưởng bản nhưng đó cũng chỉ là ngôi nhà lá lụp xụp, ngoài lúa gạo ra nhà không có thứ gì giá trị. Tối đến trời lạnh không có chăn đắp, ngôn ngữ lại bất đồng ông phải ra hiệu hỏi mượn váy của bà chủ nhà. Đắp váy phụ nữ người Mông là việc bất đắc dĩ nhưng gần một tuần tối nào ông và hai cán bộ nữa cũng phải dùng đến chúng. “Ở bản Mông Hai có cặp vợ chồng người Mông mới 30 tuổi đã có tới 9 người con. Ông chồng bảo: “Nhà tao không có ti vi, đài thì hết pin, ở nhà vợ chồng chỉ “thủ thỉ” với nhau thôi nên con cứ thế nó ra”.

Còn với thượng tá Lê Thành Nghị, Trưởng Công an huyện Mường Lát, để cuộc sống của Mường Lát trở lại yên bình như hôm nay, ông không thể quên những đêm tối trườn mình qua những bụi gai, quần áo đẫm sương rừng để nắm được đường đi lối lại của bọn buôn cái chết trắng.

Trụ sở làm việc của UBND huyện và Huyện uỷ Mường Lát giờ đã kiên cố khang trang nhưng ở phòng nào cũng vậy, ngoài bàn làm việc còn có thêm chiếc gường cá nhân. Ông Phạm Bá Sáng, Chánh văn phòng Huyện uỷ giải thích: “Huyện vẫn chưa thể trang bị được chỗ ở cho cán bộ trong khi hầu hết cán bộ ở đây đều từ Quan Hoá (huyện tách xã cho Mường Lát) lên nên vẫn phải ngủ trong phòng làm việc, thực hiện nép sinh hoạt kiểu nhà binh: ăn cơm theo kẻng, tối ngủ phòng không”.

Mường Lát hôm nay đã khác xưa rất nhiều nhưng vẫn còn bộn bề những khó khăn. Trẻ em đến trường vẫn chưa có đủ cơm no, áo ấm. Nơi trọ học vẫn là những ngôi nhà lá bé tẹo, dựng tạm gần trường học. Nhưng cán bộ và bà con nơi đây vẫn đang nỗ lực hết mình để vượt qua những cái khó vốn đã ngự trị ở đây từ bao đời. Bà con nơi đây vẫn cần lắm những sự trợ giúp đắc lực để thoát nghèo.

Ghi chép của Tuệ Minh
Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN