Vai trò chủ lực của VNPT được thể hiện ở việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc quốc gia hiện đại, đồng bộ và rộng khắp, đóng góp tích cực vào thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNHHĐH) cũng như góp phần đảm bảo an ninh, quốc phòng của đất nước.
(TT&VH) - Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) là một doanh nghiệp Nhà nước chủ lực trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông và Công nghệ thông tin Việt Nam. Vai trò chủ lực của VNPT được thể hiện ở việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc quốc gia hiện đại, đồng bộ và rộng khắp, đóng góp tích cực vào thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNHHĐH) cũng như góp phần đảm bảo an ninh, quốc phòng của đất nước.
1. Luôn đi đầu trong việc ứng dụng, cập nhật các công nghệ hiện đại vào mạng lưới, hiện nền tảng mạng viễn thông thế hệ mới của VNPT đã đáp ứng tốt các yêu cầu về quản lý và phát triển mạng viễn thông hiện đại, đồng bộ và tích hợp đa dịch vụ với chất lượng cao. Năm 2008, VNPT thực hiện phóng thành công vệ tinh viễn thông đầu tiên VINASAT-1 vào hoạt động, góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện, nâng cao năng lực phủ sóng cho toàn bộ hạ tầng thông tin liên lạc và truyền thông của quốc gia, đáp ứng kịp thời các yêu cầu mới về thông tin, truyền thông của công cuộc CNH-HĐH đất nước. VNPT cũng là một trong những doanh nghiệp VT - CNTT đầu tiên trong nước cung cấp các dịch vụ mới như truy cập Internet qua đường truyền cáp quang FTTH, truyền hình qua Internet tốc độ cao MyTV, di động 3G... Năm 2009 là năm thứ 3 liên tiếp VNPT được bình chọn vào Top 10 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam. Đây là kết quả được lựa chọn từ Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Năm 2009 do Báo điện tử VietnamNet phối hợp với Công ty Cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam thực hiện. Kết quả 6 tháng đầu năm 2009, doanh thu phát sinh của toàn Tập đoàn tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước, thuê bao điện thoại thực tăng 24,93% so với cùng kỳ, thuê bao băng rộng MegaVNN thực tăng đạt 43,27% so với cùng kỳ; thị phần dịch vụ Internet của VNPT đạt gần 80%, thị phần dịch vụ di động của VNPT đạt gần 60%...
Người dân sinh hoạt tại một điểm bưu điện văn hóa xã
2. Về phát hành báo chí đến mọi cộng đồng dân cư, đến nay, người dân của 96% số xã trên cả nước đã được đọc báo trong ngày. Sáng kiến xây dựng các điểm Bưu điện văn hóa xã từ năm 1998 thực sự là một mô hình sáng tạo của VNPT, góp phần đẩy nhanh quá trình CNHHĐH nông nghiệp nông thôn Việt Nam... Tại mỗi xã, VNPT đã xây dựng một điểm BĐVH và đầu tư 500.000 đồng ban đầu để mua sách báo phục vụ miễn phí nhu cầu đọc của người dân đồng thời cung cấp các dịch vụ BCVT cơ bản như tem thư, điện thoại, Internet... Với số lượng 3.000 điểm bưu cục và hơn 8.000 điểm BĐVH xã trên toàn quốc, đến năm 2008, VNPT đã rút ngắn bán kính phục vụ bình quân xuống còn 2,4 km/bưu cục, giảm 0,73km so với các năm trước đây. Cùng với việc đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá dịch vụ, từ năm 2003 VNPT đã đưa Internet vào 100% trường THPT và dạy nghề trên toàn quốc. Bên cạnh đó, VNPT cũng đã cung cấp dịch vụ Internet tại hơn 2.000 điểm BĐVH xã, tạo điều kiện sử dụng dịch vụ thuận lợi cho bà con nông dân. Với chương trình “Tuổi trẻ VNPT nối mạng tri thức”, hàng ngàn đoàn viên, thanh niên VNPT đã tham gia quyên góp, sửa chữa, huy động hàng trăm máy tính và nhanh chóng triển khai nối mạng Internet cho không chỉ 30 xã thuộc các huyện Từ Liêm, Sóc Sơn, Đông Anh (Hà Nội) mà còn ở hàng chục xã ở Nam Định, Lào Cai, Bến Tre, Ninh Thuận và Đà Nẵng. Chương trình “Một triệu giờ đồng hành” được triển khai phối hợp giữa VNPT và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam cũng đã hỗ trợ 1 triệu giờ truy cập Internet miễn phí cho hàng vạn thanh, thiếu niên tại 2.353 điểm BĐVH xã trên cả nước; Chương trình “Vườn tri thức VNPT” được triển khai tại các địa phương như Hải Phòng, Đà Nẵng, Phú Yên, Ninh Thuận... nhằm tạo điều kiện cho thanh thiếu niên nông thôn được tiếp cận với máy tính và Internet... đã được đông đảo thanh niên nhiệt tình đón nhận và được các địa phương đánh giá cao. Với những nỗ lực đó, cùng với các doanh nghiệp bạn, VNPT đã góp phần nâng tỷ lệ người dân sử dụng Internet của Việt Nam lên xấp xỉ 25% (trong đó riêng VNPT đóng góp tới 75%). Tỷ lệ này chỉ đứng sau Singapore, Malaysia, Brunei ở khu vực Đông Nam Á. 3. Từ nhiều năm qua, VNPT luôn đồng hành với các hoạt động đạo tạo nhân lực, tìm kiếm nhân tài trong lĩnh vực công nghệ thông tin - truyền thông nói riêng cũng như trong xã hội nói chung bằng các hoạt động như tổ chức cuộc thi “Nhân tài đất Việt”; tài trợ các cuộc thi “Thần đồng Đất Việt”, Olympic Tin học của sinh viên, học sinh; trao học bổng “VNPT chắp cánh tài năng” cho học sinh nghèo vượt khó học giỏi... VNPT cũng là doanh nghiệp khởi xướng, thực hiện hàng loạt các hoạt động mang ý nghĩa xã hội như “Hành trình nhân ái” mang lại Tết ấm cho người nghèo; “Tặng xe lăn cho người khuyết tật”, “Xây nhà tình nghĩa cho Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, xây dựng “Mái ấm công đoàn”... Không chỉ vậy, với những người dân gặp khó khăn hoạn nạn do thiên tai, bão lũ, VNPT luôn sẻ chia với tinh thần tương thân tương ái... Bắt đầu từ năm 2009, VNPT cũng đã khởi động một hành trình dài hơn 10 năm hỗ trợ 2 huyện nghèo của tỉnh Lai Châu là Sìn Hồ và Mường Tè góp phần giúp người dân giảm nghèo nhanh và bền vững trị giá gần 200 tỷ đồng... Theo đó, VNPT sẽ dành gần 200 tỷ đồng đầu tư vào các hạng mục: Xây dựng hạ tầng bưu chính, viễn thông, CNTT; hỗ trợ đầu tư đào tạo và phát triển nghề; hỗ trợ xóa toàn bộ nhà tạm cho người nghèo; chương trình Y tế - Khám chữa bệnh cho người dân trên địa bàn; xây dựng nhà bán trú dân nuôi cho học sinh; xây dựng nhà cho giáo viên, hỗ trợ tiền ăn cho học sinh dân tộc Mảng... Cùng đó là Cổng thông tin điện tử y tế “Chung tay vì sức khỏe cộng đồng” đã được VNPT phối hợp với Bộ Y tế xây dựng và khai trương tại địa chỉ www.vho.vn nhằm cung cấp cho xã hội những thông tin mới, cập nhật và hữu ích về sức khỏe và y tế đã được nhiều người biết tới với khoảng 3.000 lượt truy cập/ngày.
|
Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch trong 10 năm (1999 - 2008)
- Tổng doanh thu phát sinh đạt 307.120 tỷ đồng, năm 2008 so với năm 1999 tăng 4,9 lần.
- Phát triển mới 47.543.000 máy điện thoại, năm 2008 so với năm 1999 tăng 49,5 lần.
- Từ 2003 - 2008, phát triển mới 1.333.000 thuê bao Internet MegaVNN, năm 2008 so với năm 2003 tăng 58,8 lần.
- Nộp ngân sách Nhà
nước 48.404 tỷ đồng, năm 2008 so với năm 1999 tăng 2,9 lần, đóng góp
ngân sáchNhà nước năm sau cao hơn năm trước, là doanh nghiệp đứng thứ
hai trong toàn quốc về nộp ngân sách Nhà nước (sau Tập đoàn Dầu khí).
- Năng suất lao động năm 2008 đạt 708,39 triệu đồng/người/năm, so với năm 1999 tăng 5,3 lần.
- Lợi nhuận sau thuế
đạt 64.733 tỷ đồng, năm 2008 so với năm 1999 tăng 4,4 lần. Tỷ suất lợi
nhuận trên vốn ngày càng tăng, vốn Nhà nước được bảo toàn.
- Thu nhập bình quân năm 2008 đạt 5.330.000 đồng/người/tháng, so với năm 1999 tăng 3,7 lần. |
|
Châu Giang