thethaovanhoa.vn

Từ một chuyến đi xa nghĩ về những món ăn gần gũi

01/12/2009 21:15 GMT+7

Năm đó, tôi đang là sinh viên năm thứ hai, một mình làm “ta ba lô”, du lịch Trung Hoa huyền bí. Nói cho oai, thực ra cũng chỉ đi được một số tỉnh miền Nam nước bạn sát biên giới, đơn giản vì “đầu tiên”.

(Bài dự thi) - Năm  đó, tôi đang là sinh viên năm thứ hai, một mình làm “ta ba lô”, du lịch Trung Hoa huyền bí.  Nói cho oai, thực ra cũng chỉ đi được một số tỉnh miền Nam nước bạn sát biên giới, đơn giản vì “đầu tiên”. Dự định chuyến đi kéo dài trong nửa tháng rút cuộc dôi thêm ba ngày do một trận bão tuyết mà tôi không lường trước. 

Tôi  khó có thể yên tâm khi người của ga xe lửa hứa hẹn chung chung với đám du khách mắc kẹt rằng: “Sẽ nhanh chóng giải quyết”. Cứ cho họ làm thật đi, nhưng tuyết cứ rơi dày thì sức người khó có thể đọ với sức trời. Nhưng lo nhất là số tiền trong túi không còn nhiều. Tiền thuê khách sạn sẽ ngốn hết số tiền đi mua quà lưu niệm nếu còn ở lại lâu.  

Buổi trưa, mà thực ra chẳng biết đang ở buổi nào nếu không có đồng hồ vì trời cứ âm u, tôi đang ngồi bó gối mà tự cằn nhằn: “Du với chả lịch” thì có tiếng gõ cửa. Mở cửa, thì ra bác trai già U70 ở bang Virginia tên là Mark Anthony. Bác đề nghị tôi đi cùng gia đình bác chuyển về sống trong nhà dân địa phương, nói theo cách người Việt là “ba cùng” với người dân. Sau này, tôi mới biết đó là kiểu du lịch mà dân “Tây ba lô” rất khoái. Mới đây, sang Hạ Lào chơi thấy cả gia đình Tây sống trong nhà sàn với những tiện nghi nguyên thủy, ăn lúa nếp, tắm suối… thế mà trông họ rất mãn nguyện. Khi nghe bác Mark rủ rê tôi không thể nghĩ nhiều về cách “du lịch sống” mà chỉ hỏi về giá cả. Bác bảo dĩ nhiên là rẻ hơn so với khách sạn. Chẳng đắn đo, tôi OK liền. Bác Mark còn rủ nốt đôi vợ chồng người Nhật đối diện phòng tôi nhập bọn.

Đi chuyển đồ với mấy ông tây bà đầm dưới trời âm độ đang cười phớ lớ mới biết sức khỏe mình quá kém, đang nghĩ ở chỗ trọ không chống lạnh được thì chỉ có nước trở lại khách sạn. Nhưng khi bước vào chỗ trọ tôi ngạc nhiên vì sự ấm áp của gian phòng. Tôi nhớ chuyển đồ xong, tôi đã ngủ một giấc thật sâu. Buổi chiều thức dậy, đi gánh nước và bổ củi với bác Mark để các bà các cô nhóm bếp. Biết tôi là người Việt Nam, bác Mark bảo tôi thử làm mấy món ăn Việt. Tôi cũng bảo bác thử làm mấy món ăn Mỹ cho tôi và bà chủ người Trung Hoa ăn thử. Bác đồng ý liền. Đôi vợ chồng Nhật cũng muốn góp vào bàn tiệc. Chúng tôi cùng nhau đi chợ.

Bữa tiệc buổi tối hôm đó rất vui. Bà chủ nhà phải kê thêm một cái bàn nữa mới đủ dọn bữa tiệc từ Mỹ, Trung, Việt, Nhật. Tôi nhớ tôi đã ăn nhiều bánh bao, sủi cảo bà chủ làm; ăn súp đậu do vợ bác Mark nấu và món ăn Nhật na ná bánh pizza mà đến giờ tôi đã quên mất tên. Nguyên liệu món đó gồm: thịt lợn, trứng, bắp cải, cà rốt… phía dưới là một nền bánh; tất cả đặt trên chảo nóng. Riêng tôi, định làm món nem nhưng không có bánh tráng để cuốn thì chịu; đành làm canh nấm mọc và mực xào dưa chuột. Mọi người khen hai món ăn của tôi đặc biệt là canh nấm mọc. Bây giờ tôi mới được trải qua cái cảm giác lâng lâng của việc món mình nấu được nhiều người khen, thế mà từ trước đến nay tôi rất ít khen món ăn người khác nấu. Cái tôi của tôi rõ là vô tâm. 


Cào cào chiên giòn

Vui chuyện, bác Mark mới cho hay bác là người gốc Mexico. Bác khoe, người Mexico coi món sâu sống dưới cây xương rồng là quốc hồn. Người ta chiên lên ăn như khoai tây ở cửa hàng fast-food; rồi làm nhân bánh ăn như sandwich. Tôi bảo người dân Việt Nam cũng có món sâu, tôi không tìm được từ tiếng Anh tương đương nên gọi thẳng là NHONG như người ta gọi phở là PHO vậy. Được thể, tôi luyên thuyên về mấy món đặc sản Việt Nam: nào là cào cào thì gọi là “tôm bay”, dế, chuột đồng, mối, trứng gia cầm ở dạng bào thai, bọ hung, rùa, rắn, thậm chí là giun. Bác Mark há hốc miệng nghe tôi kể. Đã thế, tôi còn trêu bác khi nói rằng món ăn quốc hồn quốc túy không chính thức của Việt Nam là thịt chó, từ một con chó có thể làm bảy món. Bác hú lên: “Ôi trời ơi”. Dĩ nhiên, tôi phải giải thích rằng người ta giết nó để hóa kiếp cho nó. Tôi còn nêu gương một ông thái tử nào đó ở Bắc Âu nghiện thịt chó Việt Nam, nên không việc gì phải sợ cả. Nghe xong, bác Mark mới bớt xem việc giết một con vật đáng yêu, trung thành là chó không đến nỗi quá kì dị và dã man. Bác nói rằng, cứ nghĩ món sâu của nước mình đã là kì lạ lắm rồi không ngờ ở nước khác có nhiều món còn kì lạ hơn. Buổi tiệc tối vẫn chưa kết thúc. Chúng tôi còn hát hò đến tận 23 giờ mới tan.  

Đang lúc rửa bát, tôi mới thầm nghĩ: hình như mấy món ăn còn chuyên chở điều gì đó sâu xa hơn việc “ăn để mà sống”. Nó là văn hóa thì rõ rồi nhưng mà nó còn thể hiện địa lí, khí hậu: người Trung Hoa ăn nhiều mỡ để chống lạnh; người Mexico ăn nhiều ớt để chống nóng. Người Việt Nam không có tuyết nên thích thứ thanh, nhẹ; thực phẩm dồi dào nên ăn tinh và khá cầu kì trong chế biến… Và biết đâu món ăn còn góp phần tạo nên “khí chất” dân tộc nữa cũng nên. Đó là lần đầu tiên, tôi đột nhiên có suy nghĩ nhiều về chuyện ăn uống đến thế mà từ lâu vì công việc cái ăn trở nên qua quýt.   

Hai ngày tiếp theo, trôi qua nhanh đến mức tôi không ngờ. Qua nói chuyện, tôi biết được nhiều điều không có trong sách vở từ những người xa lạ. Buổi sáng ngày thứ ba, tôi thức dậy thì ngoài trời đầy nắng. Bà chủ nhà đang phơi mấy cái chăn ngoài sân vuông. Tôi biết mình sắp về nhà…

                                                            Hàm  Đan
Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN