
Bài 2: Gửi phận cho măng
Đêm hôm ấy, sự háo hức khám phá thêm tộc người Đan Lai còn nhiều bí ẩn này cứ thôi thúc khiến tôi thức trắng. Họ là cả một kho những điều bí mật.
(Tiếp theo và hết)
(TT&VH) - Đêm hôm ấy, sự háo hức khám phá thêm tộc người Đan Lai còn nhiều bí ẩn này cứ thôi thúc khiến tôi thức trắng. Họ là cả một kho những điều bí mật. Hiện họ có khoảng 3000 người ở Con Cuông và một nhóm nhỏ ở phía bên kia biên giới, thuộc nước bạn Lào, sống chủ yếu nhờ hái lượm.
Phải nhờ đến cuốn sổ ghi chép, sổ điểm danh của trưởng bản tôi mới rõ là cả bản Khe Nóng có 39 hộ dân, còn số nhân khẩu thì chịu. Vị phó bản cũng không nhớ được cái bản con con của mình có bao nhiêu người. Già La Văn Linh có thể kể ra tất cả tên họ, hoàn cảnh của từng người nhưng không thể đếm được. Có lẽ, với cụ ông 72 tuổi, nhưng sức vóc còn khá tráng kiện này thì số đếm cũng đã là một việc khó khăn.
“Sơn nam” này cũng tích cực hái măng
Những cuộc đời trong rừng rậm
Theo già Linh, về cơ bản Khe Nóng đều là hộ nghèo, bởi hầu như nhà nào cũng phải nhận gạo cứu đói của Nhà nước. Gọi là gạo cứu đói, nhưng mỗi nhân khẩu chỉ được nhận khoảng 5kg gạo cho một đợt cứu trợ. Còn nguồn sống chính của bà con là nhưng củ rừng, quả rừng, măng. Hàng ngày, nhiều người dân Khe Nóng vẫn lén lút khai thác gỗ bán cho các thương lái ở Khe Choăng và những đầu nậu người miền xuôi. Vào mùa mưa - mùa măng nên đến nhà nào trong bản cũng thấy măng phơi trên gác bếp, trên những chiếc giàn nứa đan sẵn và đó là mặt hàng chính của bà con. Họ phơi khô và cho con buôn đến mua, mỗi cân măng khô cũng được hơn 30 nghìn đồng. Các bé trai, bé gái sáng ra lại xách túi lên đồi nhặt hạt dẻ, hạt vàng tâm, mỗi cân cũng kiếm được 3 đến 5 ngàn đồng. Bước chân ra khỏi nhà là rừng, mà chủ yếu là rừng già nên việc kiếm những thứ lâm sản đó không phải điều gì quá khó khăn với bọn trẻ. Cậu bé La Văn Tiến 11 tuổi cho biết: Mỗi ngày em cũng kiếm được 15 đến 20 nghìn đồng cho bố mua gạo.
Mùa nào thức ấy, cuộc sống của bà con Đan Lai bản Khe Nóng chỉ luẩn quẩn với những cánh rừng già Pù Mát. Người đi xa nhất bản là cô giáo La Thị Dậu, 16 tuổi, con gái già Linh, đã từng vào đến Quảng Trị làm công nhân. Nhưng cô bé cũng đã phải trở về bản sau hơn 3 tháng ở đất khách quê người, lạ nước lạ cái. Cô cũng chỉ quen với khoảnh rừng và những con đèo uốn khúc quê cô. Chỉ sau vài tháng đi ra khỏi bản trở về cô gái còn chưa học hết cấp 1 này cũng thích diện quần bò, áo phông theo mốt gái tân thời. Gặp chúng tôi, cô không tỏ ra e dè như nhiều cô gái ở đây. Cha đi vắng, nên cô phải rót nước mời khách. Thế nhưng khi đặt hai bát nước xuống chiếu cô đã trốn vào nhà. Cô gái đã gần 20 tuổi ấy đã tụt theo cột nhà rồi lỉnh sang nhà hàng xóm.
Căn chòi tập thể của người hái măng
Học hết lớp 5 rồi… nghỉ
Bản có một điểm lẻ của trường tiểu học Châu Khê II. Trường gồm 4 phòng học với 18 học sinh từ lớp 1 đến lớp 4. Năm nay không có lớp 5. Tham gia giảng dạy ở đây có 2 thầy giáo và 2 cô giáo. Họ đều là người từ các xã khác chuyển đến theo phân công công tác của ngành giáo dục huyện, mỗi năm luân chuyển một lần. Mỗi lần vào năm học mới các em học sinh lại có một thầy cô giáo mới. Các giáo viên đến đây sau một năm học lại chuyển đi nơi khác. Đã thành nghĩa vụ của các thầy cô giáo, mỗi người trong đời “gõ đầu trẻ” phải có ít nhất 5 năm lên công tác ở những bản khó khăn. Chính vì điều này làm nảy sinh tâm lí “làm nghĩa vụ” trong đội ngũ giáo viên ở đây. Phần nhiều chỉ mong hết thời gian để được về gần trung tâm huyện có điều kiện tốt hơn. Chứ ở những bản như Khe Nóng thì ngại lắm, xa xôi lắm, lại không điện, không lộ giao thông…
Theo thầy Vi Xuân Thắng, giáo viên lớp 4 thì điểm lẻ Khe Nóng mới chỉ có từ năm 2001. Có nghĩa là trước đây, muốn đi học các em nhỏ Khe Nóng phải đi bộ gần chục cây số, vượt gần chục dòng suối, con đèo để ra điểm trường chính ở bản Diềm. Từ trước đến nay trong bản chưa ai làm được điều này. Nói vậy, trước năm 2001, bản Khe Nóng không có ai được đi học. Trong mắt người bản Nóng con chữ chưa bao giờ quan trọng. Trẻ con ở đây sinh ra rồi chỉ để học một kỹ năng hái măng và đào củ. Bản Khe Nóng mới học cách làm lúa nước cách đây vài năm. Hiện cả 40 hộ dân có chưa đến 2ha lúa nước. Những người làm cha làm mẹ ở đây chỉ lo cái ăn cho đàn con đông đúc suốt ngày trên rừng, còn đâu thời gian lo học hành cho con cái nữa?
Cô giáo Công thường phải đi đón học trò đến lớp
Khi chúng tôi đang trên đường vào trường thì gặp cô Vi Thị Công đang đưa từng cháu nhỏ mới vào lớp 1 đến lớp. Mặc dù đã đến giờ học nhưng chưa cháu nào chịu vào lớp. Cô phải thân hành đến nhà các cháu, tay bồng tay bế từng cháu một. “Có như vậy các cháu mới chịu vào lớp, chứ cứ ngồi chờ thì cả ngày chúng cũng không đến đâu”. Cô giáo Công cho biết thêm: “May mà lớp chỉ có 4 cháu. Chứ đông như những lớp học bình thường thì mất cả buổi sáng cũng không thể gom hết các cháu vào lớp”.
Hiện giờ, trẻ con bản Khe Nóng chỉ học hết lớp 5 rồi phải nghỉ học. Muốn học lên nữa các em phải đi 20km ra trung tâm xã mới có trường. Cậu bé La Văn Quế, học xong lớp 5 hồi 2007, nhìn chúng tôi như có điều gì khó nói. Gặng hỏi mãi thì em cho biết là rất muốn được đi học tiếp nhưng vì trường xa quá, mẹ em đã mất, bố quanh năm đau ốm nên đành phải ở nhà. Ngày ngày em phải cùng các anh chị của mình đi hái măng thôi.
Lớp học chỉ có rất ít học trò
Cô giáo Nguyễn Thị Hòa, chủ nhiệm lớp 2 tâm sự: “Các em lớp 2 cộng trừ nhanh rồi, em nào cũng thạo tiếng Kinh cả. Nếu trẻ con bản này không được tiếp tục học lên thì tội nghiệp lắm”.
Còn già Linh, mãi đến khi chia tay các thầy, cô giáo ra về rồi mới nói nhỏ với chúng tôi: “Bọn trẻ bây giờ thông minh hơn bọn tôi ngày xưa nhiều các chú ạ. Các chú thử nghĩ xem cách gì để cho bọn nhỏ học lên đi. Không thì tiếc lắm”.
Những lời tâm can của cụ Linh từng có thâm niên 20 năm làm trưởng bản cứ vương vấn mãi trong tâm trí tôi đến tận bây giờ...
Hữu Vi
Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN