
Chuyện thường ngày ở tỉnh?! (Bài 3): Tồn tại hay không tồn tại?
Văn chương không phải là thứ sản phẩm muốn có là có, người viết không phải là con gà cứ cho ăn ngon là đẻ trứng vàng.
(TT&VH Cuối tuần) - Cách đây gần 40 năm, trong khi đang dạy học ở một miền quê, sau khi có được mấy bài thơ đăng ở vài tờ báo Trung ương, tôi được điều về công tác tại Hội Văn học Nghệ thuật (hoặc Hội Văn nghệ tỉnh). Những ngày đầu về với một môi trường công tác mới, tôi thực sự phấn khởi, vì nghĩ rằng điều mình mơ ước từ nhỏ nay đã thành hiện thực, nghĩ rằng từ đây không bao lâu nữa, mình sẽ trở thành những ông này ông nọ trong lĩnh vực văn chương. Nhưng không bao lâu sau, tôi cảm thấy mình đã lầm. Văn chương không phải là thứ sản phẩm muốn có là có, người viết không phải là con gà cứ cho ăn ngon là đẻ trứng vàng.
Những ngày đầu, từ một môi trường dạy học mà ngay từ đầu tuần tôi đã biết việc mình phải làm trong từng ngày, từng giờ trong tuần. Bây giờ ở một nơi, sáng ra không biết ngày hôm nay mình làm gì (vì sáng tác, nhất là sáng tác thơ văn đâu có hẹn trước và có hẹn thì cũng không thể nào một tháng 30 ngày, một ngày 8 tiếng, tất cả đều chỉ làm ra thơ). Thế là thời gian đầu, tôi luôn cảm thấy hụt hẫng, thấy mình có tội với mọi người chung quanh, với những đồng nghiệp của tôi còn đang dạy học ở nhà trường, với những bà con nông dân nơi cơ quan tôi sơ tán. Họ vất vả lao động mưa nắng suốt ngày, vậy mà thu nhập lương lậu nào có hơn gì tôi, thậm chí còn kém tôi. Đó là tâm trạng của tôi trong những ngày đầu về nhận công tác ở một hội Văn nghệ địa phương miền Bắc thời còn chiến tranh. Cũng chính vì thế mà hơn 10 năm sau, khi được cử đi “tăng cường” cho một tỉnh trong miền Nam, khi đang giữ chức phó chủ tịch Hội Văn nghệ của tỉnh ấy, tôi đã làm đơn xin nghỉ hưu trước tuổi (tính theo luật lao động thì còn phải chín năm nữa mới đến giới hạn này). Tôi giữ cái chức “phó” này mới được gần hai năm và chức “trưởng” (chủ tịch) - đang bị khuyết do được điều sang công tác khác - tức là cơ hội nắm chức trưởng này không xa tầm tay với của tôi là mấy. Nhưng tôi vẫn xin nghỉ hưu non. Nguyên nhân dẫn đến quyết định này trước sau chỉ có một. Ấy là cái công việc và cái nơi tôi đang làm việc, sao mà vô vị, thừa thãi thế. Và để minh họa cho những suy nghĩ mà có thể có người cho là không chuẩn xác, tôi đã viết một bài đăng trên báo Nhân dân Chủ nhật số ra ngày 14/11/1993 với nhan đề Bỏ thì thương vương thì tội để nói về tình trạng không có thì thiếu mà có thì thừa tại các Hội văn nghệ địa phương lúc đó (và cả ngày nay nữa). Ngày ấy, sau khi bài báo ra đời, tôi cũng đã đọc được một số ý kiến phản hồi nhưng suy xét lại tôi thấy, tất cả những ý kiến ấy đều không điểm trúng vào những vấn đề bài báo đặt ra. Thành ra tôi vẫn cảm thấy chưa thỏa mãn. Vì lý do đó, hôm nay, tôi xin nêu lại một lần nữa. Mỗi địa phương có cần thiết phải có một hội văn học nghệ thuật (gọi tắt là Hội Văn nghệ) không? Xin thưa là “cần” nhưng không phải ở thời điểm hiện nay và sau này! Đấy là những năm cả nước có chiến tranh, sự động viên cổ vũ kịp thời là điều hết sức cần thiết. Những năm đất nước vừa được giải phóng, văn nghệ mỗi miền còn mang nhiều tính đặc thù, nhiều khác biệt. Cũng là những năm các phương tiện thông tin, viễn thông chưa phát triển mạnh mẽ và đều khắp như bây giờ. Người ta có thể chép tay những cuốn tiểu thuyết, hoặc một đêm văn nghệ “cây nhà lá vườn”, cũng thu hút đến hàng ngàn người xem... Đấy cũng là những năm mà hoạt động văn nghệ còn trong cơ chế quan liêu bao cấp, sản phẩm làm ra dù có chất lượng cũng khó tìm được nơi tiêu thụ. (Những năm đó cũng có những người làm thơ cứ hai, ba năm lại được Nhà nước in cho một tập, còn số khá đông cứ phải xếp hàng năm mười năm để may ra có thể được in chung hai, ba người vào một tập). Trước tình hình đó, việc tự sản tự tiêu, tự cung tự cấp những sản phẩm văn nghệ là điều cần thiết. Và do đó mà các Hội Văn nghệ địa phương ra đời và có lý do tồn tại. Còn ngày nay? Tình hình khác hẳn rồi, Hội Văn nghệ còn làm được việc gì nữa? Để tập hợp những người làm văn nghệ ư? Tôi nghĩ những người thực sự có khả năng ở lĩnh vực này thì họ đã có các hội chuyên ngành quốc gia kết nạp. Còn những người chưa đủ tiêu chuẩn để tham gia những hội ấy? Thì nói với họ hãy đợi đấy... Hay chi chuyện chưa biết đá bóng mà đã sinh hoạt trong đội bóng. Còn để bồi dưỡng nhân tài ư? Ngày nay thiếu gì những học viện, trường lớp cỡ quốc gia đảm nhiệm những công việc nói trên. Những cơ sở như thế chắc chắn khả năng “bồi dưỡng” cao hơn hẳn các địa phương. Còn văn nghệ quần chúng? Tôi nghĩ bồi dưỡng và quản lý phong trào này đâu phải là nhiệm vụ của Hội Văn nghệ mà của các Sở, ngành làm văn hóa. Nếu Hội Văn nghệ có làm chẳng qua là đá lộn sân mà thôi. 
Hội VHNT Bình Định tổ chức đi thực tế Núi Bà
Trên đây là nói về nhiệm vụ thứ nhất (được ghi trong điều lệ) của các Hội Văn nghệ địa phương. Bây giờ bàn sang nhiệm vụ thứ hai, tức là nhiệm vụ của xuất bản, sử dụng các tác phẩm của lực lượng địa phương. Tôi nghĩ, với tình hình xuất bản, sử dụng tác phẩm hiện nay, vai trò của hội địa phương trong lĩnh vực này cũng không còn cần thiết nữa. Bởi lẽ, chỉ nói riêng trong lĩnh vực xuất bản cấp quốc gia, cũng đã thấy có sự thông thoáng biết chừng nào. Với con số hơn 50 nhà xuất bản và “nửa thiên” báo, tạp chí (mà báo nào cũng có trang văn nghệ) cùng những phương thức xuất bản rất dễ dàng thoải mái như hiện nay thì những người cầm bút lúc này hà tất phải cần đến Hội Văn nghệ, khi mà sách báo ở những nơi này in ra do địa bàn hạn hẹp cho nên việc phát hành rất khó khăn, số người đọc rất ít. (Tôi nhớ có một năm Hội Văn nghệ tỉnh nọ ra báo Tết. Báo in 3.000 tờ, gửi đi phát hành khắp nơi, đến lúc thu lại thì thấy chỉ bán chưa được chục tờ). Đó là chưa kể đến tình trạng sách báo ở một số hội địa phương hiện nay do số người viết rất ít nên hầu như quanh đi quẩn lại chỉ có vài ba người viết ký bằng hàng chục bút danh khác nhau. Do những điều nói trên, các hoạt động của một số Hội Văn nghệ địa phương hiện nay teo dần lại và dẫn đến tình trạng nhiều cán bộ biên chế trong cơ quan Hội ngày ngày đến cơ quan không biết làm gì, ngoài việc đánh cờ, xem tivi, chơi game và... tán gẫu, gây ra tình trạng lãng phí ngân sách Nhà nước và sự không công bằng về lao động giữa các cơ quan với nhau, đồng thời cũng tạo ra khoảng cách ngày một xa giữa Hội với các cơ quan Nhà nước và nhân dân. (Có lần tại một hội nghị các sở ban ngành cấp tỉnh, ban tổ chức đã không ngần ngại ghi tên những người đại diện cho một Hội Văn nghệ nọ vào danh sách những người ở trong... “đội kèn Tây” đến phục vụ hội nghị vì họ nghĩ Hội Văn nghệ cũng đồng nghĩa với đội kèn). Với tình hình như trên mà địa phương nào còn giữ lại (tức không giải thể) Hội Văn nghệ, tôi nghĩ địa phương đó đúng là gặp tình trạng “vương thì tội” thật. Từ thực tế đó, người viết bài này thiển nghĩ, nếu ở đâu gặp phải hoàn cảnh như thế thì cứ nên mạnh dạn giải thể. Biết bao nước có nền văn học nghệ thuật tiên tiến với bao tác giả cỡ thế giới mà nào có Hội Văn nghệ cấp tỉnh, cấp huyện gì đâu. Và, tôi nghĩ nếu có thì chắc chắn rằng cái hội ấy cũng là do hội viên của họ lập ra, họ hoạt động bằng tiền của chính bản thân họ và các mạnh thường quân đóng góp. Chứ đâu lại như ở ta, Nhà nước cấp kinh phí hoàn toàn một trăm phần trăm, còn các hội viên công tác trong các cơ quan của Hội thì chỉ có mỗi việc tháng tháng lĩnh lương ra tiêu xài, còn hội phí thì hầu như... quên đóng. Vì những điều tôi trình bày ở trên, tôi thiển nghĩ đã đến lúc các Hội Văn nghệ địa phương nên xem xét lại vai trò của mình, làm sao để những người độc mồm độc miệng khỏi mỉa mai: “Lập Hội Văn nghệ khác nào tỉnh chơi phong lan”, nghĩa là chỉ để làm sang, có cũng được mà không có cũng chẳng sao!Nhà văn Nguyễn Khoa Đăng
Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN