Vừa qua có thông tin cho rằng múa xòe Thái và chèo Tàu chưa hề được trình lên UNESCO, hay thông tin "các hồ sơ nói trên đã được đệ trình nhưng bị loại". Vì thế đã xuất hiện nhiều bình luận tiêu cực về các di sản này!
(TT&VH) - Vừa qua có thông tin cho rằng múa xòe Thái và chèo Tàu chưa hề được trình lên UNESCO xét công nhận di sản. Và rằng, “một số chuyên gia liên quan tuyên bố rằng các hồ sơ nói trên đã được đệ trình lên UNESCO, sau đó bị loại vì không đạt yêu cầu”, vì thế đã xuất hiện nhiều bình luận tiêu cực về các di sản này!
Thông tin về việc lập hồ sơ múa Thái, hát chèo Tàu trình UNESCO đã được báo chí đăng tải rộng rãi từ cả chục năm trước. Ngạc nhiên trước “phản hồi” trên, chúng tôi đã trao đổi lại với GS Tô Ngọc Thanh, người lập hồ sơ năm đó để kiểm tra lại thông tin.
Chèo Tàu
GS Thanh cho biết: “Từ năm 1999, UNESCO thực hiện việc xét để vinh danh các Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Tôi là hội viên Hội Âm nhạc quốc tế - Hội thành viên của UNESCO, nên biết thông tin ấy. Sau đó tôi đã huy động Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam đứng ra lập hồ sơ. Lúc đó chẳng biết mẫu mã hồ sơ như thế nào, chúng tôi tự làm theo quan điểm của mình rồi trình múa Thái và hát chèo Tàu lên UNESCO. Năm đó, theo tôi nhớ là có 48 hồ sơ được đệ trình và xem xét. 2 hồ sơ của Việt Nam lọt qua vòng 1, cùng 32 hồ sơ di sản được xét tiếp vòng 2, nhưng cuối cùng trong 15 di sản được UNESCO công nhận năm đó không có 2 di sản của Việt Nam.
Tôi không dám nói là tôi đại diện cho quốc gia cử 2 di sản này đi, tôi chỉ nhân danh Hội Văn nghệ Dân gian gửi lên, còn UNESCO có xét cho hay không là... quyền của họ. Sau khi có kết quả, UNESCO cũng không có văn bản trả lời mà là tôi cũng chỉ được biết tình hình như thế thông qua cán bộ của UNESCO. Hồi đó chưa có Công ước về Di sản văn hóa phi vật thể (năm 2003 mới có - PV) nên trình tự, thủ tục rồi “quy chế” chưa thể hoàn hảo như bây giờ. Sau năm 2001, các cơ quan hữu quan của Việt Nam đã vào cuộc mạnh mẽ và đã đưa được Nhã nhạc là “kiệt tác” vào năm 2003...
Theo thông tin mà GS Thanh đưa ra thì rõ ràng múa Thái, chèo Tàu đã từng được lập hồ sơ và trình UNESCO (còn việc “đệ trình” này “chính danh” đến mức nào, có phải là “đại diện quốc gia” hay không thì cần xét trong bối cảnh lịch sử cụ thể lúc đó, khi mà việc đề cử di sản phi vật thể còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam). Vì thế, nỗ lực của Hội Văn nghệ Dân gian là rất đáng trân trọng. Cũng qua trao đổi với GS Thanh, chúng tôi cho rằng, hồ sơ bị loại chủ yếu là do chúng ta chưa có kinh nghiệm xây dựng hồ sơ, lại cũng chưa làm theo “mẫu chuẩn”. Vì thế chúng tôi cũng ngạc nhiên khi lần đầu tiên nghe thấy thông tin vì hai di sản này “bị loại” khi trình lên UNESCO nên dẫn tới... những lời bình luận tiêu cực!
Nhân đây cũng phải nói thêm, việc đề cử di sản có thể thành công, được UNESCO công nhận, cũng có thể chưa thành công vì liên quan đến nhiều vấn đề trình tự, thủ tục, cũng như các vấn đề bếp núc khác trong việc lập hồ sơ, chưa kể quan điểm của các hội đồng xét duyệt, chứ không phải cứ trượt là nghĩ rằng di sản “kém cỏi”.
Như TT&VH đã phản ánh trong bài trước, quan điểm của UNESCO cũng rất rõ ràng trong việc này cho nên gần đây khi họ không đưa ra tiêu chí “kiệt tác” để xét cho các di sản nữa (mà đưa ra tiêu chí “đại diện” hoặc “cần bảo vệ khẩn cấp”), vì trong di sản văn hóa phi vật thể rất khó để nói chuyện di sản nào là... giá trị hơn di sản nào. Cần phải hiểu di sản phi vật thể nào cũng có giá trị vì trước hết nó thể hiện bản sắc của cộng đồng ấy.
Nguyễn Mỹ