thethaovanhoa.vn

Bỏ phố về làng

18/07/2009 15:39 GMT+7

Cách Hà Nội chừng 90km về phía Đông Bắc, danh “gốm làng Ngòi” ở xã Tư Mại, Bắc Giang nổi tiếng cả trong Nam ngoài Bắc thậm chí ra cả nước ngoài, nhưng để tìm được “dinh cơ” của gốm lại không phải việc dễ.


 

(TT&VH) - Cách Hà Nội chừng 90km về phía Đông Bắc, danh “gốm làng Ngòi” ở xã Tư Mại, huyện Yên Dũng, Bắc Giang nổi tiếng cả trong Nam ngoài Bắc thậm chí ra cả nước ngoài, nhưng để tìm được “dinh cơ” của gốm lại không phải việc dễ. Ngoắt ngoéo qua nhiều chặng đường, cuối cùng, người ta chỉ: Chừng nào thấy cái “lò gạch” to tướng ngự giữa cánh đồng thì ấy chính là “tư dinh” của Lưu Xuân Khuyến, cha đẻ của dòng gốm làng Ngòi.

Gương mặt xương xẩu, ăn mặc giản dị, thậm chí có phần tuyềnh toàng, Lưu Xuân Khuyến không gây cho tôi cảm giác đây chính là cha đẻ của gốm làng Ngòi đang hiện diện trên thị trường.

Khuyến đang “lướt nét” mà theo Khuyến thì “rùa bò” còn nhanh hơn là mạng Internet ở đây. Nhưng quả thực, nếu không có nó, Khuyến không làm sao có thể giao dịch được với  bạn bè và khách hàng.

Nói năng hoạt ngôn, hay dùng những câu thành ngữ ở quê khi nói chuyện, Khuyến luôn mồm nói, tôi là anh nông dân làm gốm kiếm ăn thôi chứ không doanh nhân nghệ sỹ gì hết.

Chàng nông dân mơ làm nghệ sỹ

Làng Ngòi của Khuyến không có người làm nghề gốm. Khi Khuyến tốt nghiệp lớp 12 và quyết định thi vào trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp thì bất kỳ ai trong làng cũng đặt kỳ vọng Khuyến sẽ trở thành một nghệ sỹ. Bốn năm học trong chuyên ngành gốm, số người học rơi rụng dần, Khuyến nằm lại trong con số 1/3 sinh viên ít ỏi còn trụ lại. Cầm tờ giấy chứng nhận tốt nghiệp trong tay, Khuyến thất thểu vào Nam tìm đường lập nghiệp. Ấy là năm 2000.


Hơn một năm sau khi làm việc tại phòng tạo mẫu sản phẩm cho một công ty gốm gia dụng khá nổi tiếng, lương của Khuyến được tăng theo từng ngày, lúc đầu là 20.000 đ/ngày, rồi tăng lên 30,50,80, 100, 200.000đ/ngày rồi đến mức 10 triệu đồng bỏ túi một tháng. Rồi Khuyến lại ra Bắc lang thang làm thuê cho một số nơi từ Phù Lãng, Bát Tràng, Quảng Ninh… và học hỏi bí quyết mỗi nơi một tí. Học mót về kinh nghiệm làm gốm thì không khó nhưng học những bí quyết để làm men thì không chỗ nào “hở” ra cho biết, kể cả bạn bè thân thiết. Những người làm gốm lâu năm giấu bí quyết làm nghề, giấu mầu men như một trong những “trác tuyệt” để tạo nên sản phẩm cạnh tranh trên thị trường. Đối với chuyên ngành gốm trang trí mà nói, thì trước Khuyến cũng đã có nhiều người làm, ở ngay Bát Tràng, Phù Lãng, gốm Nhung và đặc biệt có tiếng lâu năm trên thị trường cả gốm trang trí và mỹ nghệ là dòng gốm Chi. Vừa tạo mẫu, vừa học hỏi, thậm chí phải dùng cả “tiểu xảo” để hiểu được bí quyết làm men, sau 3 năm, Khuyến quyết định xây lò gốm đầu tiên ở Bát Tràng.

Lò xây thành công, nhưng 15 lần đưa sản phẩm vào lò thì đều sống, vỡ hoặc rộp. Mặc dù đi làm thuê nhiều năm nhưng thực sự chưa bao giờ Khuyến tự tay đốt lò nên cũng chưa hiểu hết được nhiệt độ, quy cách làm nóng sản phẩm thế nào cho phù hợp. Chính nhiệt độ của lò mới tạo nên sản phẩm là sành hay gốm, là sứ hay là đất nung.

Mẻ gốm đầu tiên thành công ngay tại Bát Tràng khiến bạn bè trong giới cũng phải trầm trồ than phục trước sự “kiên gan” của “nông dân Khuyến”.  Nhiều người đến chia vui với Khuyến, trong đó có rất nhiều khách hàng tiềm năng sau này của anh. Bí quyết làm nghề học được rồi, gốm làm thành công rồi, sản phẩm có khách hàng rồi, Khuyến quyết định về làng làm gốm. Đó là cuối năm 2003.

Bỏ nghệ sỹ, về làm nông dân.

Lưu Xuân Khuyến sinh năm 1977 tại làng Ngòi, thôn Tân Minh, xã Tư Mại, huyện Yên Dũng, Bắc Giang. Tốt nghiệp ĐH Mỹ thuật Công nghiệp năm 2000.

Năm 2007 nhận giải thưởng Lương Định Của cho “Nhà nông trẻ xuất sắc” do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trao tặng. Năm 2007 nhận bằng chứng nhận “Sản phẩm tinh hoa làng nghề Việt Nam” do Hiệp hội làng nghề VN  trao tặng.

Năm 2008, nhận bằng chứng nhận “Nghệ nhân làng nghề Việt Nam”.
Khuyến về làng, bố mẹ và các em đều rất ngạc nhiên, cả người làng cũng không hiểu chuyện gì. Người làng Ngòi ra ngoài làm ăn hết, nhiều ruộng bỏ không. Khuyến nhận thêm 5 sào ruộng, 4 năm học và 4 năm bôn ba “làm thuê làm mướn”, cái váng phù sa chưa sạch trên móng chân Khuyến thì anh lại nhận ruộng để quyết tâm từ bỏ nghệ sỹ mà làm nông dân.

Khuyến suy luận, làng Ngòi cách làng Phù Lãng có 1 con sông Như Nguyệt. Người Phù Lãng vẫn phải sang làng Ngòi lấy đất về làm gốm, người làng Ngòi lúc nông nhàn vẫn sang Phù Lãng để làm thuê, nếu mở được lò ở làng Ngòi thì tiện cả đôi đường. Nhất là, làng Ngòi có đến cả ngàn người mang họ Lưu, họ của ông tổ làng nghề Phù Lãng. Thêm nữa, một gia đình xóm trên đào móng làm nhà đã phát hiện ra một chiếc lò nung gốm. Không có chuyên gia lịch sử xem xét đánh giá xem nó có từ thời nào, nhưng Khuyến suy luận trẻ con và rất mơ hồ rằng “biết đâu” làng Ngòi mới là cái nôi của gốm. Khuyến hạ quyết tâm mang toàn bộ số tiền dành dụm trong suốt mấy năm bôn ba làm thuê để mở lò.

Lò gốm của Khuyến “chình ình” trên một thửa đất giữa đồng, cách xa làng Ngòi, mà bạn bè và những người làng vẫn gọi là “lò gạch thằng Khuyến”.

“Lò gạch” đầu tiên vừa xây xong, vừa rút giáo ra thì cả lò sập xuống, Khuyến như chết vùi trong đống gạch vữa cùng một cô gái bên Phù Lãng sang giúp xây lò. Đi bệnh viện 2 tháng, cứ tưởng Khuyến khó mà sống nổi, ấy thế mà ý chí quật cường đã khiến Khuyến chóng khỏi bệnh. Lại trở về làng với hai bàn tay trắng cùng 1 vợ một con thơ quyết tâm xây dựng lại sự nghiệp. Ấy là giữa năm 2004.

Nhưng xây dựng thế nào khi toàn bộ lưng vốn đã đổ vào lò và sập hết? Đi vay tiền thì không ai dám cho vay. Những lúc bế tắc quá, cậu ra đồng, ngày bắt cua, đêm soi ếch, bắt trai trai về để cải thiện bữa ăn cho vợ đẻ con nhỏ. Lại vun vén, nhờ bố mẹ và anh em vay mượn, làm lại lò. Lò xây thành công cũng đồng nghĩa với việc sản phẩm của Khuyến ào ào chảy ra thị trường.

Bạn bè chia vui, những bạn hàng trước đây đã từng biết đến Khuyến tới tấp đặt hàng. Mỗi tháng Khuyến cho ra đời một lò sản phẩm, làm không kịp vì chẳng riêng khách hàng trong nước tìm Khuyến mua hàng mà còn có cả khách hàng nước ngoài “mê” những sản phẩm gốm trang trí do bàn tay của Khuyến tạo ra.

Đến sản phẩm gốm làng Ngòi.

Có Khuyến, làng Ngòi có tên cho một loại sản phẩm gốm. Nhiều người làng Ngòi có công ăn việc làm, nhất là những người không có khả năng làm ruộng. Tên Làng Ngòi chu du từ bắc chí nam và vượt xa ranh giới Việt Nam. Gốm ấy chẳng mang tên Khuyến mà mang tên làng anh như một cách Khuyến khẳng định với tiền nhân về nhận định của mình “biết đâu ông tổ làng Phù Lãng lại chả có gốc từ làng Ngòi?”.

Vì biết sản phẩm của mình ra sau, lại chưa có thị trường như các dòng gốm trang trí khác, Khuyến chú tâm làm sản phẩm của mình tốt hơn, và không mở rộng thể loại mà chỉ nâng cấp nó trở thành sản phẩm tinh xảo hơn, mang tính dân dã, Việt Nam hơn. Bởi vậy, chất liệu gốm làng Ngòi của Khuyến chỉ là sành nâu với hoa văn nổi. Đó là những mảng tranh gốm mang dòng văn hoá dân gian dựa trên nền của một số dòng tranh nổi tiếng trước nguy cơ thất truyền như: Tranh dân gian Đông Hồ, tranh Hàng Trống, và đặc biệt văn hoá vùng miền của cả nước được Khuyến đưa vào sản phẩm. Ấy là các cô gái quan họ mặc áo mớ ba mớ bảy, là các cô gái dân tộc vùng cao với lối vấn khăn đầy lãng mạn và cái eo lưng cong đầy chất thơ; là mối tình nổi tiếng trong văn học Việt Nam của Chí Phèo và Thị Nở; là các nhân vật, câu chuyện dân gian: ông thầy bói mù, ông thầy đồ liếm mật, truyện Trê Cóc, anh nông dân chân chất và thông minh… Tất cả đều mang một cái tên: Gốm làng Ngòi.

Ông chủ “a ma tơ”

Khi bắt đầu dựng nghiệp làm lò, lò sập, sau Khuyến mới tìm hiểu, hoá ra là lò được xây trên nền ruộng, phía dưới là bùn nên lún. Nếu Khuyến biết tính toán và suy nghĩ nhiều hơn chắc đã không có sự cố đau lòng ấy.

Một sản phẩm làm ra Khuyến cũng không biết bán như thế là đắt hay rẻ, chỉ tính trừ chi phí, công thợ, củi lửa rồi chia đều giá cho các sản phẩm thôi. Anh bảo: Khách hàng của tôi chủ yếu là 2 kênh, một là khách cũ, hai là nhờ những sản phẩm đã “đứng” trên thị trường thì cũng có một lượng khách hàng tìm đến với gốm làng Ngòi.

Trong số rất nhiều khách hàng “giời cho” ấy, Khuyến gặp một người rất lạ. Bà lặn lội từ Củ Chi ra tìm Khuyến, mời cộng tác. Và giờ, Khuyến đang làm sản phẩm cho khu du lịch làng nghề Việt Nam tại Củ Chi với quy mô rộng 20ha và chính Khuyến cũng không biết, dự án này sẽ chừng bao nhiêu tiền, vì: “chỉ biết làm thôi đã”, làm đến đâu lấy tiền đến đấy, không “dự toán” được.

Trưa ấy, tôi được Khuyến mời ăn một bữa cơm gia đình, có cả cô gái người Phù Lãng bị sập lò với Khuyến, cô ấy nói, em bị khâu 41 mũi ở mặt. Ra viện, anh Khuyến và chị Nhung (vợ Khuyến) bảo ở lại đây. Em ở lại.

Bữa cơm ấy có canh cua nấu rau đay mồng tơi, có trai trai xào măng, có cá rô cá giếc rán… “Toàn là những thứ tôi bắt được ngoài đồng. Khuyến nói thế. Cả nhà tôi đều là nông dân. Đến vụ, vợ con đều ra đồng cấy hái, giờ thì không phải vì đói, vì thiếu ăn mà vì cái chất nông dân nó ngấm vào tôi quá rồi. Không bỏ được”.

Còn hơn chục người thợ làm việc tại xưởng của Khuyến đều là người làng Ngòi, trong đó có anh Toan, 36 tuổi, là người lùn nhất làng (vì anh cao chưa đầy 1m)  khẳng định: Khuyến đi mò cua bắt ốc thế đấy, nhưng nếu anh em thợ ai muốn hỏi xin, Khuyến cho cả giỏ. Lặn lội đồng ruộng, với Khuyến chỉ là cái thú mà thôi.

Bà Trần Tuyết Nga, Phó Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam nói: Tôi lặn lội từ Sài Gòn ra Bắc Giang tìm Khuyến, khi tiếp xúc biết Khuyến là một người thật thà, nhiệt tình. Nếu so với những dòng gốm trang trí khác đang có trên thị trường thì gốm của Khuyến cũng chưa thực đạt đến độ tinh xảo. Tuy nhiên, những nét mộc mạc, dân dã trong sản phẩm gốm làng Ngòi là một lợi thế. Nếu Khuyến chú tâm, làm quy mô hơn thì chắc chắn gốm của Khuyến còn đi xa hơn nữa.

Phóng sự của Hoàng Điệp

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN