Nhà kinh tế Richard Easterlin trong công trình nghiên cứu của mình đã đặt ra câu hỏi CNTB có làm người Đông Âu hạnh phúc? Câu trả lời là Dù mức sống có cải thiện, nhưng họ lại cảm thấy bất hạnh sau khi được phương Tây “giải phóng”.
(TT&VH) - Đó là câu hỏi mà nhà kinh tế học Mỹ Richard Easterlin đặt ra cho công trình nghiên cứu vừa được công bố của mình. Câu trả lời là: Dù mức sống có cải thiện, nhiều người thuộc khối Đông Âu trước đây lại cảm thấy bất hạnh sau khi được phương Tây “giải phóng”.
Richard Easterlin, viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ và là một giáo sư nổi tiếng của Đại học Nam California, cho rằng “một loại virus mang tên thất vọng” hiện đang lan tràn khắp các nước Đông Âu. Nếu xét về phạm trù hạnh phúc và mức độ hài lòng với cuộc sống thực tại, bức tranh toàn cảnh Đông Âu xem ra khá ảm đạm so với các khu vực khác. Người dân ở đây cũng không còn háo hức, mặn mà với “nền dân chủ phương Tây”. Điều này được thể hiện rõ nét khi tỷ lệ tham gia cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu vừa qua ở các nước Đông Âu đã rơi xuống mức thấp chưa từng có.
Thu nhập cao không nghiễm nhiên dẫn tới sự hài lòng
Công trình nghiên cứu của ông Easterlin vừa đăng trên tạp chí Journal Of Economic Behavior & Organization bắt đầu với câu hỏi: Sau 20 năm cái gọi là “Bức tường Berlin sụp đổ”, mức độ hài lòng với cuộc sống của dân chúng các nước Đông Âu hiện tăng tới mức độ nào? Qua công trình nghiên cứu này, ông Easterlin muốn tìm hiểu xem “nền dân chủ tư sản” có mang lại hạnh phúc cho người dân ở Đông Âu hay không.
Kết quả có vẻ như không logic với một số công trình nghiên cứu trước đây vẫn cố chứng minh rằng, “dân chủ tư sản” luôn gắn liền với mức độ hài lòng về cuộc sống thực tại và thu nhập cao hơn ở các nước thuộc khối Đông Âu trước đây. Thực tế có vẻ ngược lại, giống như tại Afghanistan và Iraq: Con người được “giải phóng” lại không cảm thấy tự do hay hạnh phúc với việc chế độ cũ sụp đổ và chế độ mới hình thành.
Richard Easterlin và Anke Zimmermann
Từ số liệu thống kê của các nước thuộc khối Đông Âu trước đây, trước hết là bảy nước CHDC Đức, Estonia, Litva, Latvia, Belarus, Nga và Slovenia, giáo sư Easterlin đã vẽ được một đồ thị về mức độ hài lòng về cuộc sống hiện tại trong sự so sánh với đồ thị của GDP, tức sự tăng trưởng kinh tế (thể hiện mức độ sung túc). Hai đồ thị này lúc đầu đều tụt dốc đột ngột và sau đó cùng tăng dần lên, nhưng đồ thị về mức độ hài lòng tăng chậm hơn nhiều so với đồ thị GDP.
Easterlin tìm cách lý giải hiện tượng này theo góc độ tâm lý xã hội và phát hiện ra rằng, sự giảm sút về mức độ sung túc gây một tác động lớn gấp bội so với khi nó tăng, dù ở mức tương đương. Vì luôn có tâm lý cho rằng thu nhập của mình ngày càng cao là chuyện nghiễm nhiên, nên con người thường “ít tỏ ra thông cảm hơn” khi mức sống bị giảm sút. Ở các bang thuộc CHDC Đức trước đây, mức độ hài lòng với cuộc sống giảm mạnh khi GDP không tăng. Đó là chưa nói tới việc mức tăng GDP không phải là công cụ lý tưởng để đo mức sống của mỗi cá nhân trong một sự phát triển xã hội mà hố phân cách giàu - nghèo đang ngày càng sâu rộng. Ở đó GDP tăng không có nghĩa là mức sống của mọi người đều tăng.
Thất nghiệp nhiều, an sinh xã hội kém
Công trình nghiên cứu của giáo sư Easterlin cho thấy rõ một thực tế là có những nước tăng GDP nhưng tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng, khiến cho mức lương trung bình của một bộ phận dân chúng giảm. Do hệ thống an sinh xã hội bị xuống cấp ở Đông Âu, nên người dân tại đây cảm thấy cuộc sống bấp bênh hơn nhiều so với thời xã hội chủ nghĩa. Trong khi hài lòng hơn về các điều kiện tiêu dùng và chất lượng môi trường, người dân Đông Đức cảm thấy thất vọng hơn về sự chăm sóc y tế, nuôi dưỡng trẻ em và bảo đảm công ăn việc làm. Ngoài ra, việc cái hố ngăn cách giàu - nghèo ngày càng sâu rộng cũng dẫn đến tâm trạng bất mãn gia tăng trong dân chúng. Các cuộc thăm dò dư luận ở Nga và Hungary cho thấy mức độ hài lòng với cuộc sống bị suy giảm kể từ sau khi có sự thay đổi chế độ. Những người ít học và có tuổi cảm thấy bị thua thiệt nhiều nhất. Đây cũng là điều dễ hiểu vì những người có tuổi vốn đã quen với cung cách làm việc, sự bao cấp cao độ dưới thời xã hội chủ nghĩa và không thể dễ dàng thích nghi với việc thay đổi chế độ. Điều này khiến họ rơi vào tâm trạng bất an và căng thẳng.
Easterlin cho rằng việc chuyển đổi từ chế độ xã hội chủ nghĩa sang tư bản chủ nghĩa chưa hẳn là yếu tố quyết định mức độ không hài lòng với cuộc sống thực tại. Có thể mọi sự thay đổi về chế độ đều khiến người ta lo ngại. Quay trở lại với câu hỏi ban đầu, Easterlin cho rằng khó có lời đáp mang tính khái quát chung cho câu hỏi quá phức tạp này. Tuy hài lòng hơn với điều kiện tiêu dùng và tự do đi lại, nhưng người dân Đông Âu lại cảm thấy bất an về công ăn việc làm, chăm sóc y tế và an sinh xã hội. Vì thế xét ở một khía cạnh nào đó, có thể nói mức độ hài lòng với cuộc sống của người dân Đông Âu đã bị suy giảm.
Minh Bích