thethaovanhoa.vn

Kể chuyện… về quê…

04/05/2009 15:12 GMT+7

Bên cạnh mùi mỡ thơm phức bốc lên hoà với những tiếng thắng thua và cả những cái chạm cốc một, hai, ba, zô…mà người tôi thấy rợn rợn trước lúc vào làng.

(Bài dự thi) - Mong đợi: Ngày còn nhỏ cứ mỗi đêm tôi khóc, mẹ tôi lại thường kể chuyện ông “Tiên làng” chuyện kể rằng: Ngày ấy làng mẹ tôi khổ lắm, quanh năm suốt tháng cháo không đủ ăn, áo không đủ mặc; trai, gái trong làng khổ quá lần lượt bỏ làng mà đi; rồi một đêm trời mưa to gió lớn, trong giấc mơ của trường làng có ông già râu tóc bạc phơ, dặn sáng mai dậy sớm và đi về hướng tây tìm loại cây dây leo, dẻo dai có gai đem về làng. Sáng mai thức giấc trưởng làng bèn vác dao lên rừng. Cả dân làng nhao nhác vì đã hơn một tuần không thấy trưởng làng đâu? Sáng ngày hôm sau, đột nhiên thấy trưởng làng xuất hiện, chân, tay đầy máu. Đang hăm hở vác đầy loại cây dài, gai sắc tiến vao làng. Trước mắt bà con, trưởng làng không nói câu nào và cứ thế cặm cụi tước gai chẻ nhỏ, rồi ngồi đan các hình như lời hướng dẫn của ông già như trong giấc mơ. Chỉ trong một tuần hương, chiếc làn đã được hoàn chỉnh, dân làng thấy hay học cách làm theo. Có hôm, một ông quan đi qua làng, thâý chiếc làn quá lạ mắt, bèn mua về cho vua xem. Vua và Hoàng Hậu thích lắm, sai quân, quan đến làng nọ mua hết mang về …Từ đấy dân làng có công ăn việc làm, gia đình mọi nhà ấm no. Để mọi người biết đến làng nghề, dân làng đặt tên là : “làng Đan”

Sau khi dân làng ăn nên làm ra, cùng nhau bàn tìm thợ giỏi xây dựng cổng làng, cũng để tưởng nhớ và biết ơn tới vị tiên mà Quan Thế Âm Bồ Tát giáng thế dạy cách đan lát. Dân làng cũng xây dựng những ngôi chùa, ngôi đền trông rất uy nghi, cả nơi thờ những ông Thành Hoàng và đình làng nữa. Từ đấy, dân tứ xứ nghe tin đổ về làng chiêm ngưỡng cảnh chùa, đền, đình…đông như hội.

Rồi đến năm THPT, thầy giáo dạy văn ra đề bài tả về cảnh làng quê em. Đó là một đêm tôi không sao ngủ được, trong đầu tôi là cảnh sáng mai hai mẹ con về quê, đi trên con đường dài, thẳng tắp hai bên đường là bãi mía, nương ngô, cánh đồng lúa xanh mơn mởn, rộng cánh cò bay, xa xa phía trước là luỹ tre làng, hàng cây xanh, cây đa đầu cổng làng. Qua khỏi cổng làng tôi sẽ được tận mắt nhìn thấy cảnh đình làng, giếng nước, sân đình…lúc ấy tôi sẽ thoả sức ngắm nhìn, ghi chép tỉ mỉ, cho bao năm mong đợi.

Thất vọng: Cũng cái ngày ấy, cái ngày mà tôi hằng mong đợi, luôn nuôi tôi có ý thức tự hào về làng quên, nhưng ngày ấy cũng là ngày làm tôi thất vọng nhất. Cũng trên đường về quê, hai bên lúa và mía cũng có ruộng, có đồng nhưng đồng ruộng lại bỏ hoang, mía thì lại lên bông. Tôi hỏi mẹ sao lại để ruộng hoang, mía không thu hoạch thế? Mẹ tôi thở dài rồi trả lời: Thanh niên giờ đâu chịu khổ, thích ăn sung mặc sướng, đang học dở văn hoá bỏ làng ra thành phố làm thuê, rửa bát, quét nhà, khuân vác, chứ không chịu chân lấm tay bùn. Tôi hỏi tiếp, sao không dùng nghề đan nát kiếm tiền nữa, mẹ tôi chỉ thở dài “con xem, mía ở đây có tốt không? thế mà cũng phải bỏ nghề không làm nghề đan nát nữa, đầu vào cũng phải có đầu ra. Đến giờ tôi mới hỏi đầu vào và đầu ra như thế nào. Cứ thế hai mẹ con tôi cứ đi cho đến khi dừng lại chỉ về phía trước, đến cổng làng rồi con ạ! Tôi hỏi mẹ thế cổng làng đâu, mẹ chỉ hai cây ông sắt dùng để dẫn xăng, dầu được chôn thẳng tắp, phía trên treo khẩu hiệu “Toàn dân đoàn kết, xây dựng đời sống văn hoá…” phía hai bên tường treo khẩu hiệu “Toàn dân bài trừ xây dưng đời sống văn hoá…”Bên cạnh cổng làng là những dãy ki ốt bi a, bóng đá, bóng bàn…Bên cạnh mùi mỡ thơm phức bốc lên hoà với những tiếng thắng thua và cả những cái chạm cốc một, hai, ba, zô…mà người tôi thấy rợn rợn trước lúc vào làng. Thế là cảnh cổng làng cây đa, bến nước đã mất đi trong ký ức tuổi thơ tôi.
 
Tới gần trưa mẹ con tôi mới về đến nhà. Dù mệt nhưng mẹ tôi vẫn đưa tôi đi qua mấy dãy nhà dân, qua mấy lối mòn phía sau mẹ chỉ cho tôi kia là đình, kia là sân đình. Tôi đứng thần người ra không nói câu nào, có lẽ mẹ đoán được tâm trạng không vui của tôi. Vào trong đình, tôi hét toáng lên vì trong đình sao nhiều trâu, bò, lợn, gà thế, có cả mấy chú chó cứ định nhảy sổ ra để cắn người ta, may mà có người ra đánh chó. Hai mẹ con lách qua mấy bãi phân trâu để vào trong đình, tôi ngước lên cột thấy trời trong xanh, chỗ có ngói, chỗ không và có những chỗ tôi không dám lại gần vì sợ mối mọt đổ ập xuống. Tôi hỏi mẹ sao không cho thợ tới sửa chữa, mẹ bảo đình này ngày xưa đã được xếp hạng, làng cũng có nhiều người làm tờ trình về sự xuống cấp của đình lên cấp trên nhưng bặt vô âm tín…Nghe đâu làng có một ông sống ở nước ngoài giàu lắm, năn nỉ để được tu bổ lại đình nhưng còn phải phụ thuộc vào bản vẽ của cấp trên, cả làng chờ mãi bảy tám năm mới có bản vẽ để thi công thì ông nước ngoài đã chết rồi. Tôi đành thất vọng và xin mẹ cho tôi được tới nơi thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, nơi thờ ông Thành Hoàng nhưng cũng chỉ còn lại những đống gạch vỡ, cây cối phủ kín. Tôi hỏi mẹ đâu hết cả rồi mẹ chỉ nói chiến tranh tàn phá, con người phá hoại nên không còn lại gì nữa. Đến lúc này tôi mới sực tỉnh ra rằng những ký ức mà mẹ kể không còn nữa, kỷ niệm mà tôi ấp ủ trong suốt thời gian qua không còn nữa. Nghĩ vậy, tôi đã khóc, khóc oà lên. Mẹ tôi giỗ mãi không đươc liền hỏi giờ con thích thế nào đây? Tôi mếu máo “Chuyện về làng quê, cố kể cho ông, ông kể cho mẹ, mẹ kể cho con. Đến khi con có con thì con lấy gì kể cho chúng? Con bắt đền mẹ, bắt đền mọi người…”Thế là mọi người ồ lên cười nói: “Trẻ con bây giờ khác xưa nhiều lắm”…

Nguyễn Sỹ Nhật
Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN