Quang cảnh “trại tị nan” Bung Lung tháng 3 năm 2001.
Thị xã Bung Lung - tỉnh lị của Ratanakiri ngự trên một vùng đất bằng phẳng, dân số khoảng 10.000 người. Nghe nói Bung Lung đã có từ thời Pháp thuộc nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy dấu tích “khai hoá văn minh” nào để lại… Thị xã của một tỉnh nghèo thứ nhì đất nước hẵn nhiên là nghèo. Nhà ở Bung Lung chủ yếu làm bằng gỗ. Bề thế và đẹp nhất chỉ mỗi khách sạn Ratanak. Đấy là một căn nhà ba tầng xây cất theo lối chùa chiền cách điệu nhưng lại ốp đá cả ngoài và trong nên trông rất nặng nề. Cả thị xã vỏn vẹn chỉ …1km đường nhựa kiêm sân bay. Có chuyện hài hước rằng mỗi khi máy bay chuẩn bị đáp xuống, người ta phải huy động tất cả nhân viên ra đuổi…bò (!). Nghèo thế mà lạ, ở đây trẻ con cũng biết tiêu tiền “đô” (đô la Mỹ). Nếu cần, dù có ôm cả bọc tiền Việt ghé vào bất cứ tiệm buôn nào cũng có thể đổi được tiền Riên hoặc Đô chóng vánh…Dân đã nghèo, công chức cũng nghèo. Lương công chức hàng trưởng phòng cấp sở tính ra chỉ hơn ba trăm ngàn tiền Việt, trong khi vật giá lại hoàn toàn không rẻ. Có lẽ vì thế mà sự nhậu nhẹt thừa mứa, um sùm mỗi chiều như bên ta là rất hiếm hoi…
“Trại tị nạn” – đó là 7 dãy nhà mái tranh vách nứa tả tượi hướng mặt vào nhau. Lãnh địa bốn phía được đánh dấu bằng những hàng rào cọc tre chăng dây cước. Cứ dăm mét lại dăng một bóng đèn bảo vệ. Bên ngoài hàng rào có cảnh sát Campuchia gác. Cách cổng khoảng mươi mét có một ngôi nhà xây, nó nguyên là trường học được giành làm chỗ cho các nhân viên UNHCR. Tất cả đều trần trụi dưới nắng. Âm thanh cuộc sống vọng tới đây có chăng chỉ là tiếng xe máy thỉnh thoảng xẹt qua cuốn theo một đám bụi vô tình…
Bần thần trước cổng trại một lúc, chúng tôi quay về chuẩn bị công việc ngày mai thì đã thấy chừng chục người đang đứng chờ. Hỏi, hoá ra được tin chúng tôi sang đón, họ đã trốn trốn trại ra trước. Vừa thấy ông Quech, một thanh niên nhào tới ôm chấm lấy khóc nức nở : Rơ Châm Nhi – con trai ông, vượt biên trái phép sang đây đã 5 tháng nay…
Ở làng Krái ( xã Hoà Phú Gia Lai ) Nhi đã có một cuộc sống khiến nhiều người ao ước: anh mới có vợ nhưng đã làm được nhà ngói, ruộng nước, rẫy cà phê đủ cả. “Ở bên Campuchia đã có “Nhà nước Đêga”, sang đó ở sẽ được sung sướng. Nếu không ưng nữa thì cho đi Mỹ, tháng tháng có đô la gửi về cho vợ con”. Nghe bọn xấu dụ dỗ, tưởng thật Nhi trốn nhà ra đi. Ông Quech cũng không hay biết. “Ân hận trong bụng quá thôi” – Nhi rơm rớm nước mắt kể cho chúng tôi nghe những gì mà anh đã trải qua trong cái gọi là “trại tị nạn” kia…
Những lán trại thảm hại đó, cứ 7- 10 người bị dồn vào một khúc. Có đủ các lứa tuổi nhưng đông nhất là đàn ông lứa trung niên. Không ai được ra khỏi hàng rào một bước trừ lúc ốm đau. Tiêu chuẩn ăn mối người 0,5 UDS/ ngày mà giá lương thục, thực phẩm ở Bung Lung thì không rẻ. Đến rau tươi cũng là của hiếm. Ở nhà quen ăn thoải mái, bây giờ mỗi bữa chỉ được lưng ba bát với vài con cá khô ai cũng kêu đói. Có người lẻn ra ngoài kiếm cả chuối non đem về dấm để “cải thiện . Ăn đã thiếu, uống cũng thiếu vì cả trại chỉ có mỗi cái giếng cạn. Kham khổ, sống tù hãm hẵn nhiên sẽ sinh bệnh tật. Căn bệnh phổ biến ở đây là sốt. Một số người còn mắc thêm bệnh phù - nhất là trẻ con do thiếu rau xanh. Đã có một cháu nhỏ chết vì căn bệnh ấy, đó là con của vợ chồng Puih Krăi người làng Brung xã Nghĩa Hưng…
Đồng bào dân tộc vượt biên trái phép tố cáo những thủ đoạn
xuyên tạc,
lừa mị của bọn phản động với các nhà báo
Người trong trại mắc lừa bọn xấu như Rơ Châm Nhi là đã số cả. Nào có ai bị “nạn” gì mà phải “tị” ! Thậm chí có người còn bị chúng lừa vào trại để lấy tiền…Thực ra thì chẳng đợi đến giờ, nhiều người thấy rõ sự thật đã bỏ trốn. Ngặt nỗi trốn không dễ vì từ “trại tị nạn” đến biên giới phải vượt 80 cây số đường đất. Tuy nhiên điều quan trọng là bà con ta bị bọn cầm đầu khống chế ngặt nghèo. “Đại ca” trong trại là Ma Chăm người làng Ba Bit 2 xã Bờ Ngoong thị trấn Chư Sê ( Gia Lai ). Ma Chăm vốn có một lý lịch đen tối. Hồi ở làng hắn đã lừa dân làng bán đất rồi lấy tiền bỏ túi. Can tội lừa đảo, bị truy nã, hắn vượt biên sang đây. Đã hơn 50 tuổi, có cháu ngoại, hắn vẫn doạ dẫm, cưỡng ép được H’Jai - một cô gái trẻ hơn hắn 20 tuổi làm vợ. Đến thế vẫn chưa thoả. Trong trại còn cô nào sạch mắt là hắn sấn vào cưỡng ép phải “mèo chuột” với hắn… Sau Ma Chăm là Ksor Bu ở xã Ia Der (Gia Lai ). Tên này ngày xưa từng đi lính Nguỵ rồi theo Fulro, hung hăng ra mặt. Cũng còn một số tên nữa nhưng chủ yếu là a dua. Bọn chúng một mặt rêu rao ai về sẽ bị chính quyền bắt bỏ tù. Ở lại sẽ được “Liên hiệp quốc” cho đi Mỹ. Mặt khác ra sức khống chế, thậm chí đánh đập những ai muốn về. Ông Ksor Ong và nhiều người khác bị chính Ma Chăm đánh sưng mặt vì đã làm đơn gửi UNHCR đòi được hồi hương.
Thêm sự giúp đỡ tích cực của bạn, 61 người vượt biên trái phép đã được hồi hương. Dường như là sự ám ảnh quá lớn, không một ai ngoái lại nhìn nơi mình ở. Những người còn lại trong trại ra sát hàng rào nhìn theo họ mặc những chiếc ô tô cuốn bụi mù trời… “Còn nhiều, nhiều người muốn về nữa” – Rơ Châm Nhi sung sướng nói như hét rồi ôm chầm lấy cổ cha khi biết những người như anh không những không bị chính quyền “phạt” mà còn được hỗ trợ khó khăn.
Vậy là nhiệm vụ chính của chúng tôi đã xong. Còn lại bây giờ là làm sao chụp được vài bức ảnh về cái “trại tị nạn” ấy. “Nói có sách, mách có chứng” chứ ! Khổ nỗi cổng chính của trại đã kè kè cảnh sát đứng gác với tấm biển “cấm quay phim chụp ảnh” trương lên đó rồi… Anh Lam bảo “ các ông cứ ở nhà để tôi ra đó tìm cách chụp lén xem”. Chờ đến nữa buổi rồi cũng thấy anh về. Mọi người ngơ ngác khi thấy anh giơ chiếc máy ảnh kỷ thuật số lên cười rũ rượi… Chuyện hoá ra là thế này: Để tiếp cận được “mục tiêu”, Lam quyết định thuê xe ôm. Vòng đầu anh lái xe hoảng, chạy nhanh quá nên không chụp được. Vòng thứ 2 thì bị rượt chạy bán mạng. Vòng thứ ba đang giương máy chụp thì bị cảnh sát tóm được. “Lôi phim ra” viên cảnh sát ra lệnh. Nhanh trí, Lam nhờ anh xe thồ nói đại ý rằng đây là khách du lịch, thấy lạ nên giương máy ngắm chơi thôi chứ không có phim. Viên cảnh sát cầm chiếc máy soi mói… Không có phim thật ( ! ). Lam được trả lại máy kèm theo một câu doạ: nếu thấy chụp lần nữa sẽ đập máy không tha !
Làm cách như Lam thêm một lần nữa thì chắc không được. Đang bí thì may cho chúng tôi, một người Việt sống ở đây đến chơi đứng ra giúp. Anh sẽ nhờ một người bạn Campuchia có ô tô chở chúng tôi đến đó. Xe mang biển số Campuchia, cảnh sát sẽ không để ý…Chúng tôi cùng đến nhà. Chỉ dăm phút hỏi han, anh đồng ý và đích thân lái xe đưa đi… Việc trót lọt, chúng tôi mừng rỡ cảm ơn anh và xin được trả tiền nhưng anh xua tay quyết liệt “ chuyện nhỏ, giúp các bạn thôi. Việt nam – Campuchia xamakhi” (Việt Nam – Campuchia đoàn kết)`
Mặc dù cả ngày dầm mình trong nắng bụi, bữa cơm cuối cùng của chúng tôi tại Bung Lung vẫn cứ thấy ngon lạ lùng. Em gái có đôi mắt đen thẫm cầm thố cơm đến từng người nhỏ nhẹ “anh có muốn dùng thêm không”. Tôi bảo em cứ để xuống bàn nhưng em cười “Phục vụ khách ăn cũng như phục vụ chồng mà!”
Tôi chưa nghe câu ấy ở đâu, dù là những nhà hàng sang trọng… Rồi bằng thứ tiếng Việt bập bẹ, em kể rằng mình đã từng đi Plei Ku, Hà Nội, rất thích. Tôi hỏi em có biết gì về Trại tị nạn” ngoài kia không. Em gật đầu. Và để phụ hoạ cho cái vốn tiếng Việt ít ỏi của mình, em đưa một tay lên xua xua, tay kia quyệt mắt rồi vờ khóc to lên. Chúng tôi cùng bật cười vì biết em muốn nói gì…Trên trái đất này chỉ thứ ngôn ngữ duy nhất mà con người đều hiểu được nhau - ấy là tiếng cười và tiếng khóc.
Ngọc Tấn