Chúng tôi được các anh Phát và Đương dẫn chúng tôi đi về phía đông nam của dải đất cù lao, nơi có 1.200 ha rừng bần tự nhiên. Khu rừng bần lớn nhất này công bằng ra phải được ghi vào sách kỷ lục GUINNESS.
(Bài dự thi) - Chuyến đi Cù Lao Dung và Long Phú của chúng tôi bắt đầu đúng như dự kiến. Đúng 6 giờ 30 sáng sớm thứ Tư, ngày 07/6, mọi người đều tập trung tại Tòa soạn như đã hẹn. Sau phút hội ý chóng vánh, chúng tôi nhanh nhẹn nhảy lên lưng những “chú ngựa sắt” vui vẻ lên đường.
Điểm hẹn hò điểm tâm “cháo lòng Cái Tắc” không được trọn vẹn vì lạc mất nhà văn quân đội Phạm Văn Thúy. Sau khi gọi điện thoại về Hội báo cáo tình hình, chúng tôi vẫn phải đi để bảo đảm lịch trình, tuy nhiên ai cũng thầm lo lắng cho anh. Khoảng hơn 9 giờ sáng, khi chúng tôi lóc cóc đến trụ sở hội Sóc Trăng thì đã thấy anh Thúy chững chạc ngồi đó uống trà. Mọi người lúc đó mới thở phào nhẹ nhõm!
Đích thân anh Ngọc Nhuần, Chủ tịch Hội và một số văn nghệ sĩ chân tình tiếp đón chúng tôi thân mật như người nhà (thực ra thì một số thành viên của hai đơn vị cũng sinh hoạt chung từ tỉnh Hội Hậu Giang những năm trước đây). Ngoài ra, còn có mặt của cây viết lão thành Trần Đắc Hiển Khánh. Một chút sau thì chị Ngọc Phượng cũng có mặt. Lịch trình của đoàn đã được thông báo từ trước và bạn cũng đã bố trí người đưa rước, hướng dẫn rất chu đáo. Anh Nguyễn Đạt, Phân hội trưởng Văn học, cùng đi với đoàn tới huyện Cù Lao Dung. Theo hướng dẫn của anh, chúng tôi nhanh chóng khởi hành liền để tiết kiệm thời gian. Cùng đi còn có Thanh Thúy, cô học trò cũ của tôi hiện làm cán bộ của Trung tâm Khuyến ngư tỉnh, tình nguyện theo làm hướng dẫn viên.
Mặc dù chúng tôi đến huyện Cù Lao Dung sớm hơn kế hoạch nửa ngày, nhưng nghe tin đoàn Cần Thơ tới, anh Lê Minh Đương, Ủy viên Ban chấp hành Huyện ủy, Trưởng phòng Văn hóa Thông tin và anh Phan Hữu Phát, Trưởng Đài truyền thanh cũng chạy lại tiếp chuyện chúng tôi. Được sự ủy nhiệm của Huyện ủy và UBND huyện, các anh sắp xếp chỗ nghỉ cho anh em trong đoàn xong xuôi rồi hướng dẫn chúng tôi tới gặp UBND thị trấn. Sau này, khi biết chủ nhà trọ còn kiêm thêm nghề mổ heo nên thường 2–3 giờ sáng là lục đục thì các anh tỏ ra áy náy. Ở một huyện mới thành lập khi văn phòng làm việc của các cơ quan dân chính và đoàn thể còn tạm bợ trong những căn nhà thiếc tận dụng thì khu nhà trọ tốt nhất ở khu vực huyện mà các anh bố trí cho đoàn hình như đã khang trang vượt hết khả năng.
Các anh Nguyễn Văn Nghĩa và Hồ Văn Nhã, Chủ tịch và phó Chủ tịch HĐND xã đón chúng tôi thân mật như những người anh em. Những thông tin về tình hình văn hóa, kinh tế–xã hội cùng những thành tích nổi bật của chính quyền và nhân dân thị trấn qua lời kể của các anh đều được chúng tôi ghi chép cẩn thận làm tư liệu. Buổi tối, sau khi đoàn đi điểm về, các anh ở UBND thị trấn đã bố trí sẵn hai bàn ăn đãi khách. Đồ ăn toàn là những món đồng quê, nhưng không khí giao lưu thân mật ngập tràn khu nhà ăn của cơ quan cùng những cái bắt tay thật chặt, những trao đổi chân tình mới để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng chủ và khách. Tuy nhiên, ấn tượng đậm nét nhất trong buổi hôm ấy là đến thăm di tích lịch sử và những điển hình tiên tiến trong lao động sản xuất. Bia chiến thắng Rạch Già tưởng niệm chiến thắng của du kích Long Phú năm 1947 nhắc mọi người nhớ đến lời hát hào hùng “Du kích Long Phú” với giọng hát tuyệt vời của chính tác giả của bài hát, cố nghệ sĩ nhân dân Quốc Hương.
Ngôi nhà khang trang đầy đủ trang thiết bị nghe nhìn và giàn máy vi tính cùng với diện tích 30 ha đất vườn ở Tổ 1 ấp Phước Hòa A mà đoàn văn nghệ sĩ dừng chân là của vợ chồng Đặng Văn Hiệp và Nguyễn Thị Tố Loan. Cả hai đều là giáo viên tiểu học. Chính lòng yêu nghề, tâm huyết gắn bó với sự nghiệp “trồng người” đã giúp cặp vợ chồng giáo viên tiểu học này quyết chí làm giàu. Họ đã vừa làm vừa tích lũy để đi lên từ 5 công đất cha mẹ cho ban đầu. Hết trồng mía, đến trồng nhãn, trồng dừa, trồng xoài, nuôi bò. Cơ ngơi có được ngày hôm nay cùng với thu nhập hàng năm hơn 100 triệu đồng chính là kết quả đầu tư công sức và trí tuệ của họ.
Với cặp vợ chồng người cựu chiến binh trẻ tuổi Lê Thành Phương thì lại đi lên bằng cách khác. Từ 3 công đất mía và chiếc ghe chở mía mua chịu của cha mẹ vợ, chính nhờ sự năng động của tuổi trẻ cùng với sự tính toán chặt chẽ học được từ thực tế công tác tài vụ trong những năm quân ngũ đã giúp Phương biết chắt chiu cần kiệm làm ăn. Khi giá mía thấp thì chuyển qua trồng nhãn. Lúc mọi người chặt bỏ nhãn thì Phương nghĩ khác. Anh về tận Vĩnh Long tìm tòi học hỏi nghề nuôi ong và nuôi dê. Bây giờ, dân Cù Lao Dung thân mật gọi Phương là “Vua Ong”. Tháng 6 năm 2005, anh được hân hạnh mời dự Hội nghị thanh niên sản xuất giỏi tại thủ đô Hà Nội. Mức thu nhập hàng năm của gia đình Phương, chỉ nói ở mức khiêm tốn cũng đạt trên 100 triệu. Vừa chân tình kể chuyện làm giàu, Phương vừa mời anh em trong đoàn thưởng thức mật ong, rượu mật ong. Không quen uống rượu, khi về tới thị trấn mặt tôi đỏ nhừ như gấc chín.
Chương trình gặp gỡ với đoàn khách văn nghệ của Cần Thơ sáng thứ Năm, ngày 08/6 đã được các anh chị ở Huyện ủy và UBND huyện chuẩn bị sẵn. Đại diện chủ nhà là các đ/c Trần Văn Ân (thường xuất hiện trên các báo, tạp chí dưới bút danh Việt Ân), Thường vụ Huyện ủy (TVHU), Trưởng Ban Tuyên giáo; Nguyễn Thị Chiến, TVHU, phó Chủ tịch HĐND và một số đồng chí khác. Cùng tham gia tiếp còn có đ/c Đỗ Tấn Hậu, nguyên TVHU, hiện là Trưởng phòng Tuyên truyền, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy. Được sự ủy nhiệm, đ/c Việt Ân gởi tới đoàn lời chào mừng nhiệt liệt. Sau khi đ/c Quân, phó chánh văn phòng UBND huyện giới thiệu lịch sử, truyền thống cách mạng của đất và người Cù Lao Dung, nhà văn Khai Phong báo cáo mục đích chuyến đi của đoàn, thông báo kế hoạch và nhờ các đ/c ở địa phương tạo điều kiện giúp đỡ.
Chúng tôi được các anh Phát và Đương dẫn chúng tôi đi về phía đông nam của dải đất cù lao, nơi có 1.200 ha rừng bần tự nhiên. Khu rừng bần lớn nhất này công bằng ra phải được ghi vào sách kỷ lục GUINNESS. Cũng may mà trời bữa đó không mưa nên chúng tôi mới được dịp ngắm rừng bần. Những cây bần xanh hơn mười tuổi đều tăm tắp, sừng sững hiên ngang, vai kề vai như những sư đoàn bộ binh. Loài “thủy liễu” này có sức sống bền bỉ, cắm sâu vào lòng đất, cần mẫn lấn biển và làm tấm lá chắn che bền vững cho kinh tế nông nghiệp và sẽ làm sống lại những tiềm năng của dải đất Cù Lao. Đứng từ xa ngắm chưa đã, nắm được nguyện vọng của đại đa số anh em trong đoàn, nhà văn Khai Phong gợi ý mướn một chuyến đò dọc ra khơi nhìn tận mặt rừng bần. Tôi pha trò:
“Mười anh nhấp nhổm xuống xuồng
Tốn tiền ra ngó cái… đuôi cồn rồi vô”.
Trên chặng về, chúng tôi còn muốn ghé thăm vườn cò, nhưng anh Đương nói: “Hơi trái đường và phải 5 giờ chiều cò mới về đấy. Nếu các anh không sợ trễ thì chúng ta lên đường?”. Chúng tôi thấy vậy hơi chùn chùn một chút. Vả lại ai biết được ông trời, lỡ không chiều lòng người, ổng cho một đám mưa thì ướt sạch. Sau một hồi bàn bạc, mọi người đều nhất trí sẽ ghé thăm đền thờ Bác, tọa lạc bên cồn Cộc. Đây là di tích cách mạng cấp quốc gia đã được xếp hạng và duyệt kinh phí tôn tạo gần 20 tỷ đồng, dự tính sẽ vừa là khu du lịch vừ là khu văn hóa thể thao, nơi sẽ tổ chức các lễ hội hàng năm của địa phương.
Buổi sáng ngày thứ ba, theo kế hoạch đã vạch sẵn, chúng tôi dạy sớm khăn gói quả mướp lên đường qua Long Phú. Phải vượt qua hai phà Cầu Chùi và Đại Ân I, nhưng vì đường ngắn nên chúng tôi đến đích sớm hơn dự kiến. Để không làm bất ngờ các anh ở Huyện, sau khi ăn sáng, anh em ngồi đợi ngoài quán café gần Huyện ủy. Vậy mà các anh vẫn phát hiện ra và mời chúng tôi vào làm việc. Ngoài thầy giáo Nguyễn Văn Thuận, phó Chủ tịch huyện, còn có các anh Huỳnh Thanh Diệp, trưởng phòng VHTT và hai cán bộ phó phòng là Thạch Văn Mến và Huỳnh Văn Thiện. Giữ lời hứa, anh Nhuần cũng đi xe máy từ Sóc Trăng xuống. Sau khi làm xong thủ tục chào hỏi và giới thiệu, thầy Thuận điểm những nét khái quát về tình hình địa phương. Theo giọng nói truyền cảm và hướng tay chỉ của Thầy, bức tranh toàn cảnh lịch sử, truyền thống cách mạng và thành tựu phát triển kinh tế–xã hội của huyện từng bước như được tái hiện. Ngoài cảng Trần Đề, nhiều dự án phát triển trong tương lai hứa hẹn đánh thức những tiềm năng của Long Phú phải kể đến như: hai khu công nghiệp Trần Đề và Đại Ngải; cầu Mỹ Thanh II; khu du lịch sinh thái Mỏ Ó; nhà máy Mía Long Phú… Đặc biệt, quốc lộ Nam Sông Hậu đoạn qua huyện nhà có chiều dài hơn 60 km.
Trong thời gian chờ cơm, bất ngờ chúng tôi được dẫn đến nhà Văn hóa ấp Khoan Tang, một ấp điển hình có đến 99% bà con người dân tộc Khmer. Ngoài các chương trình hoạt động văn hóa, văn nghệ, hội thảo, sinh hoạt các Câu lạc bộ thì ở đây liên tục diễn ra các lớp dạy nghề may, sửa chữa máy, đan lát. Cậu em có cái tên rất mềm mại là Lý Thị mới chỉ có 30 tuổi nhưng đã rất chững chạc trong vai trò thành viên Ban Chủ nhiệm. Còn người con gái có tấm lòng vàng Dương Thị Hồng Đào, 46 tuổi, Ban Cán sự phụ nữ thì cười rất tự nhiên khi nói đùa: “Em chưa có gia đình, nhưng đã có hai con”. Sự thật thì chị nhận hai cháu mồ côi về nuôi dạy và cho đi học. Hiện nay các cháu đã học hết lớp 7 và lớp 8. Chúng tôi được gặp gỡ và chứng kiến một lớp học may do cô giáo trẻ đẹp Lan Anh từ trường Dạy nghề Sóc Trăng đang đứng lớp. Chỉ tiếc là lớp học đang tiến hành, nên để không mất nhiều thì giờ của thầy trò họ, chúng tôi nhanh chóng dời gót.
Hướng dẫn viên chính được Huyện ủy và UBND chỉ định theo chúng tôi là Thạch Văn Mến. Chàng trai Khmer, 42 tuổi, dáng người đầm đậm và nước da nâu này còn dễ mến hơn cả cái tên của anh. “Trưởng thành từ Đội tuyên truyền cổ động quần chúng, được sự phát hiện, bồi dưỡng của lãnh đạo cùng sự nỗ lực của bản thân, Mến ngày càng tỏ ra là một cán bộ có nhiều triển vọng”, khi được hỏi về anh, thầy Thuận đã cho tôi lời nhận định này. Quả thật, đi với chúng tôi tới chỗ nào, gặp sự kiện văn hóa nào, qua chứng tích lịch sử nào anh cũng kể vanh vách, khi tiếng Việt (nói với chúng tôi) và khi tiếng Khmer (nói với bà con người dân tộc). Mới hai ngày mà tôi đã coi Mến như một người bạn thân thiết. Nếu thời gian cho phép, anh Hoài Phương chắc còn muốn anh dẫn tới một ngôi chùa, dịch và giải thích một vài dòng chữ viết ở đó.
Đích đến chiều hôm ấy là khu vực cảng Trần Đề. Tuy vậy, theo bài bản trước tiên, anh Mến cũng đưa đoàn qua xã Trung Bình. Chúng tôi không ai không khỏi giật mình vì ngạc nhiên khi được đ/c phó Chủ tịch xã Lưu Hữu Danh, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội của xã đã cho mọi người biết thu nhập bình quân đầu người hàng năm của xã là 12 triệu đồng. Con số mà một vài đô thị khác ở Việt Nam còn phải mơ ước. Cách cảng Trần Đề 4 cây số là nơi đóng quân của đồn biên phòng 638. Cơ sở vật chất của bộ đội còn nhiều thiếu thốn, nhưng lòng hiếu khách của các anh đã làm ấm lòng anh em văn nghệ sĩ. Bữa cơm “đại táo” gồm nhiều tinh bột và rau xanh (tăng gia) được chúng tôi ních chắc bụng.
Phó Giám đốc Phạm Quốc Việt cho biết: “Cảng Trần Đề là một trong mười cảng nằm trong hạng mục đầu tư của Chính phủ bằng nguồn vốn ODA”. Dù còn rất nhiều khó khăn, nhưng theo nhận xét của tôi, cảng Trần Đề sẽ là “Bến đỗ tương lai” không chỉ cho những con tàu khai thác mà còn cho các dự án phát triển kèm theo các cơ sở dịch vụ khi quốc lộ Nam Sông Hậu hoàn thành. Việt ngỏ nhã ý mời đoàn ở lại dùng bữa cơm chiều nhưng vì đã hứa trước với các anh ở Đồn biên phòng 638, nên chúng tôi xin khất đến bữa trưa ngày hôm sau.
Sau khi rời cảng, về đồn biên phòng dùng bữa xong, chúng tôi về nghỉ tại nhà trọ Thanh Lịch ở thị trấn Lịch Hội Thượng để chuẩn bị cho chuyến đi thực tế ngày hôm sau. Tối hôm ấy còn được thưởng thức món ăn đặc sản của địa phương này là khô heo. Ai cũng tấm tắc khen hương vị lạ mà rất ngon.
“Đậm đà mắm tép Mỹ Xuyên
Khô heo Long Phú, cái duyên mặn mà”.
Sáng thứ Bảy, ngày 10/6, tuy không phải là ngày làm việc hành chính, chị Lý Thị Liên, phó Chủ tịch xã cũng vui vẻ ghé cơ quan tiếp đoàn. Được chị cho biết ở xã có 3 chùa Khmer, trong đó chùa POTHIPRUC lịch sử được thành lập từ năm 1502, anh em trong đoàn rất háo hức. Tuy vậy, thời gian không cho phép, hơn nữa cũng cần bám theo lịch trình nên chúng tôi phải hẹn dịp khác. Qua khỏi xã một đoạn, con đường quốc phòng nối hai ấp Sóc Lèo (xã Lịch Hội Thượng) và Mỏ Ó (xã Trung Bình) dẫn chúng tôi ngang qua một “thị trấn tôm”. Những vuông tôm san sát kề nhau. Thấp thoáng những ngôi nhà chòi giữ tôm, những dãy quạt nước đang quay tít. Xa xa là những ngôi nhà đủ màu sắc sơn đỏ, sơn nâu vàng, sơn xanh… Chẳng còn lại một vết tích nào của cánh đồng năn khi xưa! Cũng ngay hôm ấy, đoàn vượt mấy mươi cây số đường đất thăm tuyến lộ Nam Sông Hậu đang thi công và dùng cơm trưa như đã hẹn hôm qua tại cảng Trần Đề trông ra biển khơi mênh mông sóng vỗ. Trận mưa nặng hạt đến và đi thật nhanh. Mặt trời ló dạng xua nhanh những áng mây đen. Trời đất sáng bừng. Cây cối trở mình. Cảnh sắc tươi vui như dự báo một tương lai xán lạn của thời kỳ mở cửa và hội nhập.
Tối hôm ấy, đoàn còn được các đồng chí lãnh đạo Huyện và một số cán bộ tuyên giáo và VHTT Tỉnh đến tiễn đưa lưu luyến. Các anh còn bố trí mở văn phòng để chúng tôi không bỏ lỡ mấy trận cầu nảy lửa. Những nghĩa cử của các anh biết bao giờ chúng tôi mới trả được! Mỗi người chúng tôi, không ai nói ra, nhưng hình như cùng chung lời thầm hứa: “Hãy cố gắng thật nhiều, cố gắng hơn nữa để khẳng định lòng tri ân qua những tác phẩm ngày càng có chất lượng!”. Cả ở Cù Lao Dung và Long Phú, ngoài sắc xanh của mía, của các loài cây trái khác, còn có màu xanh hứa hẹn của những ý tưởng, của những dự án đầy triển vọng sẽ được đầu tư và thực hiện trong tương lai. Đó chính là lý do vì sao tôi đặt tựa cho bài viết này là: “ẤN TƯỢNG MÀU XANH”.
Nắng Xuân