Bạch Mã đang mùa xuân. Mặt đường dốc và đá, nhiều chỗ bị sạt lở nặng vì mưa lớn. Nhưng có hề gì. Cỏ cây bên đường bạt ngàn hoa. Đang còn sung sức nên cao hứng cất tiếng hát, rồi những câu chuyện tiếu lâm, những trận cười làm lao xao cả núi rừng…
(Bài dự thi) - Chúng tôi lên chuyến tàu 3 giờ sáng ở ga Huế. Xập xình, háo hức. 5 giờ, sương sớm mờ mịt, cả đoàn đã tập kết ở chân dốc đường mòn lên đỉnh Bạch Mã. Việc đầu tiên là ghé vào nơi làm việc của Ban quản lý vườn quốc gia. Nhìn chúng tôi lỉnh kỉnh đủ thứ, anh trực ban tròn mắt: Các bạn thật sự muốn khám phá đỉnh Bạch Mã? Với một đội hình và những “quân dụng, quân trang”…này?
Với kinh nghiệm của “thổ địa”, hẵn anh trực ban đã đoán được kết quả chuyến đi của chúng tôi, nhưng anh vẫn nhiệt tình cho biết những thông số, những cột mốc đáng lưu ý trên đường. Cuối cùng, anh chúc chúng tôi có một hành trình vui vẻ, lý thú và không quên căn dặn mọi người tuân thủ các quy định bảo vệ rừng cũng như giữ khoảng cách cần thiết trong suốt cuộc hành trình.
Chúng tôi xốc ba lô lên đường ngay. Tuổi trẻ, niềm tin, khát vọng. Đoàn có tám người, nhưng nữ chiếm tới năm. Trong đó có đến bốn em là dân thành phố chính hiệu, hình như chưa bao giờ được “cuốc bộ” trên các con đường đất, và “bé con” (không ai vượt quá 40 kg!). Vậy mà, khi nghe thông tin chung quanh việc công nhận vườn quốc gia Bạch Mã, tất cả liền háo hức vạch ra kế hoạch để tận mắt được khám phá đỉnh núi của những vị tiên đến đánh cờ. Niềm tin của cả đoàn đều dựa vào ba người con trai, trong đó có một trưởng đoàn với chút ít kinh nghiệm trong việc đi rừng.
Cả đoàn nghỉ trưa bên một con suối. Dù có thức ăn khô mang theo, nhưng trưởng đoàn vẫn bảo cố gắng nấu cơm ăn để lấy sức đi tiếp. Lũ con gái chúng tôi lúi húi nấu cơm, còn các anh thì xuống suối. Cơm vừa chín tới đã thấy các anh mang lên mấy con cá và rổ rau me đất tươi nhăn. Bữa cơm trưa giữa rừng với món canh chua me đất tuyệt vời ấy đã xua tan đi bao mệt nhọc, khởi động lại nguồn cảm hứng dạt dào trong chúng tôi.
Buổi chiều qua mau. Lần đầu tiên tôi cảm nhận được sự chóng tàn của ngày. Hầu như ai nấy vẫn còn sung sức, nhưng trưởng đoàn đã hạ lệnh dừng lại bên một con suối lớn. Mặc dù theo lời của anh trực ban vườn quốc gia khi sáng, chúng tôi đi như vậy là chưa đạt. Phải đến được “nhà tròn” vào chiều tối thì sáng mai mới có thể ngắm được mặt trời lên từ đỉnh Bạch Mã. Nhưng rồi, “sức ta có hạn”, cả đoàn vui vẻ tắm rửa, dựng lều, chuẩn bị cho buổi tối. Để chúng tôi được êm lưng sau một ngày vượt dốc, các anh chặt lá, cẩn thận hơ trên bếp lửa để loại trừ vắt rồi lót thành đệm. Bạch Mã đêm ấy đầy trăng. Quanh ánh lửa bập bùng, chúng tôi ca hát. Tiếng hát, tiếng đàn, quyện với tiếng suối róc rách, hòa vào ánh trăng, cùng với tiếng đệm của muông thú, như tan loãng, như chập chùng… (dội mãi trong tôi một niềm nhớ khôn nguôi!).
Chúng tôi thức dậy rất sớm. Không khí ẩm ướt. Nước suối trong vắt. Chạm tay vào nước, tôi hoảng hốt rụt lại. Lạnh đến tê cứng. Vậy mà phía bên kia tảng đá lớn vẫn nghe tiếng quẫy nước bì bõm và tiếng trưởng đoàn cười ngất: Mấy đứa ơi, đố biết tụi anh “giống” gì (!?)
Dọn dẹp lều trại, tuân thủ kỹ càng nội quy sạch sẽ, an toàn, chúng tôi chôm hổm ngồi đợi mặt trời. Trên các tầng cây nhấp nhô phía dưới, từng dải, từng dải mây trắng cứ đùn lên. Cảm giác “lên mây” thực sự là đấy chăng. Mây cuộn dần về phía chúng tôi, chẳng mấy chốc đã phủ kín, không gian như tối lại, và cảm giác lạnh cóng ùa đến. Nhưng rất nhanh, ánh nắng ấm áp tràn theo. Nắng đuổi mây cuộn lên phía đỉnh. Chúng tôi mơ màng bảo nhau, hẵn bây giờ ngựa trắng đang lang thang tìm các vị tiên trên đỉnh núi ấy…
Chừng quá nửa buổi thì chúng tôi đến được “nhà tròn”. Đấy là một kiến trúc của Pháp từ năm 1930. Khu nhà đã hư hỏng nặng, những mảng tường loang lổ tên người. Chút thất vọng hiện trên gương mặt mỗi đứa. “Nhà tròn” này sẽ là dấu chấm cho hành trình leo núi của chúng tôi. Nếu tiếp tục lên đỉnh, chúng tôi sẽ lở dở đường về. Một đêm nữa trên con đường quay về hẵn không ai mong đợi. Hơn nữa, còn phải bắt tàu về lại Huế để kịp buổi học đầu tuần sau.