thethaovanhoa.vn

Côn Đảo - Một thời đau thương và kiên dũng

14/04/2009 17:27 GMT+7

Đã từ lâu, tôi ước một ngày được đặt chân lên Côn Đảo - một phần máu thịt thiêng liêng phía đông nam của Tổ quốc - nơi từng được mệnh danh là “địa ngục trần gian” với lịch sử bi hùng

(Bài dự thi) - Đã từ lâu, tôi ước một ngày được đặt chân lên Côn Đảo - một phần máu thịt thiêng liêng phía đông nam của Tổ quốc - nơi từng được mệnh danh là “địa ngục trần gian” với lịch sử bi hùng. Thế rồi một ngày đầu xuân năm nay, từ Thành phố Hồ Chí Minh, sau chưa đầy một giờ băng qua biển bằng máy bay, bỗng ngỡ ngàng mở ra trước mắt tôi điệp trùng núi non Côn Đảo.

Côn Đảo từng có tên gọi là quần đảo Côn Lôn (theo nghĩa Hán văn, côn lôn nhằm chỉ một vùng biên địa xa xôi hẻo lánh), với những cái tên nghe thiêng liêng và rất đỗi Việt Nam: núi Con Ngựa, núi Chúa, núi Một; mũi Cá Mập, mũi Lò Vôi; hòn Bà, hòn Vung, hòn Trứng, hòn Bảy Cạnh; bãi Vông, bãi Cạn… Cả quần đảo có 16 hòn đảo lớn nhỏ, có tổng diện tích 76 km2. Tuy dân số chỉ xấp xỉ 6000 người, nhưng mảnh đất đầu sóng này là nơi gặp gỡ cư dân của 59 tỉnh, thành cả nước.

Đầu thế kỷ XVIII, thực dân Pháp đã đặt chân lên Côn Đảo. Sang thế kỷ XIX, sau khi chiếm Nam Kỳ, năm 1862, chúng đã thiết lập ở đây một nhà tù gồm 4 trại giam. Sau này, tiếp quản các trại giam đã có, Mỹ - ngụy còn xây thêm 4 trại mới để giam giữ những người Việt Nam yêu nước. Giữa muôn trùng sóng nước, dằng dặc núi cao, vực sâu, hoàn toàn biệt lập với đất liền; Côn Đảo quả là vùng địa lợi “lý tưởng” để thực dân rồi đế quốc biến nơi đây thành một “địa ngục trần gian” có một không hai ở xứ Đông Dương.

Bằng cái gọi là sứ mệnh “khai hóa văn minh” của người Pháp hay “bảo vệ tự do” của người Mỹ; đằng sau những cái tên trại Bác Ái, Cộng Hòa hay những tên trại đều bắt đầu bằng chữ “phú”: Phú Hải, Phú Sơn, Phú Hưng, Phú Bình... kẻ thù đã không từ một thủ đoạn tàn độc nào để khủng bố tinh thần và đày đọa hàng vạn người Việt Nam yêu nước. Sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (1940), các trại tù Côn Đảo đã trở nên quá tải: trên 4.400 tù nhân. Những năm 1941 - 1942, mỗi ngày trôi qua, có từ 10 đến 20 người từ chỗ “sống nương núi Chúa” đã phải lần lượt “chết về hàng Dương”. Để chỉ trong hai năm đó, đã có 1.000 người nằm xuống. Còn Mỹ - nguỵ, với “sứ mệnh bảo vệ tự do” đã đưa số tù nhân ở Côn Đảo (những năm 1969-1973) lúc bình thường là 8.000 người, lúc cao điểm từ 10.000 đến 12.000 người (toàn miền Nam lúc ấy có tới 5 nhà tù lớn, 44 nhà tù cấp tỉnh, 176 nhà tù cấp quận). Để bưng bít và đánh lừa dư luận, có lúc chính quyền Sài Gòn cho đập bỏ 120 phòng giam chuồng cọp kiểu Pháp, nhưng liền sau đó đã bí mật xây dựng mới 8 khu với 384 phòng giam, đặt tên là Trại 7, hay còn gọi là trại Phú Bình - chính là “chuồng cọp kiểu Mỹ”.

Dù thực dân hay đế quốc, họ đều tự cho mình cái quyền được bày đặt và áp dụng những biện pháp dã man, thâm độc nhất; với những phương tiện tinh vi và tàn bạo nhất đối với người tù: xiềng chân, còng tay; biệt giam cô độc trong xà lim, trong hầm tối; thường xuyên “được” “tắm” vôi, “tắm” phân, “ăn” roi; bị trần trụi giữa những bầy mặt người dạ thú; hay buộc phải lao động khổ sai để chết dần chết mòn vì đá đè, cây đổ; vì thiếu ăn, thiếu thuốc, thiếu cả ánh sáng và khí trời… Chỉ với hai mố cầu Ma Thiên Lãnh đã khiến 356 người bỏ mạng, vài trăm mét Cầu tàu 914 đã phải đổi bằng 914 mạng sống của người tù. Làm sao có thể biện minh, khi mà mỗi phòng giam tập thể chừng 60 -70 m2 lại có thể “lèn” 140 - 150 người tù, đến nỗi ngày đêm họ phải thay nhau nằm gần cửa ra vào để mong được thở chút khí trời. Mỗi ngăn của “chuồng cọp Pháp” chỉ 3 - 4 m2 lại “nhồi” 6 - 8 người. Trên đầu là lưới sắt và đặt sẵn những thùng vôi bột và nước bẩn, lúc nào cũng có thể dội xuống đầu người tù, kể cả khi bị cấp trên phê bình hay được lên lon, lên chức! Tột cùng của sự “nhân đạo” thời Pháp phải kể đến là “Hầm phân bò”, được xây từ năm 1930, thiết kế thành 2 ngăn, có hố sâu 3 mét để chứa phân và nước thải từ chuồng bò; dùng để tra tấn người tù bằng cách ngâm họ dưới đó suốt ngày đêm! “Chuồng cọp kiểu Mỹ” thì chật chội và bít bùng, nền nhà ngoài cao trong thấp để nước bẩn dễ tràn vào; được kết cấu bởi sắt thép lạnh lùng và quét sơn đen kịt nhằm đạt “tiêu chuẩn” nóng bức về mùa hè, lạnh buốt về mùa đông.

Để rồi kết thúc 113 năm “khai hóa” và “bảo vệ” của thực dân và đế quốc, khu đất gần 20 héc ta có tên gọi Nghĩa trang Hàng Dương ở Côn Đảo đã phải “ôm” vào lòng nó gần 2 vạn con người - bằng gấp 4 lần dân số cả huyện Côn Đảo hiện nay! Nghĩa trang Hàng Dương được gọi là “bàn thờ của Tổ quốc” là vì vậy. Ông A. Duy - xan, một khách du lịch người Pháp, sau khi tận mắt chứng kiến những gì ở nhà tù Côn Đảo đã thốt lên: “Làm sao có thể hiểu nổi con người tàn bạo với con người đến thế!”.

Cũng như bao người khác, tôi đến Côn Đảo, để rồi lòng muốn bật lên những tiếng nấc nghẹn ngào trước những “bằng chứng sống” - những chứng tích bi thương không thể xoá nhoà!

Nhưng chính những gì mà Côn Đảo đang có cũng là bằng chứng sinh động, hùng hồn về lòng kiên trung, bất khuất; về ý chí và niềm tin sắt đá của những người yêu nước Việt Nam. Trong nỗi đau tột cùng về thể xác giữa chốn ngục tù tối tăm, những chiến sỹ cách mạng ấy vẫn làm thơ, vẫn tổ chức học lý luận, biểu diễn văn nghệ; chị em phụ nữ vẫn may vá thêu thùa... Ở trại Phú Hải, trên một bức tường còn lưu lại những chữ được viết bằng máu: “Kiên nhẫn + vững tin”. Và cũng bằng máu, hai câu thơ sau đây viết ở trại Chuồng bò: “Máu ta quí cả hơn vàng. Tổ quốc cần đến sẵn sàng ta dâng”. Tôi không gìm nổi xúc động khi được đọc một cuốn sổ nhỏ còn lưu những trang viết tay rất công phu bài học về ngữ pháp Việt Nam: liên từ, phụ thuộc liên từ; giới từ, nhóm bổ túc từ... Một tài liệu khác là những bài thuốc để chữa bệnh trong tù. Ở Khám 7 hà khắc lại là nơi ra đời của tờ báo bí mật “Tiến lên”, được “xuất bản” đều đặn suốt 10 năm, do các đồng chí Phạm Hùng, Lê Văn Lương phụ trách. Nói cách khác, họ đã biến chốn tù đày thành trường học cách mạng; biến cả địa ngục trần gian này thành một trường đại học cộng sản.

Chiều xuân Côn Đảo, nơi nào cũng đẹp như tranh vẽ. Một vẻ đẹp hoang sơ, chân thực đến nao lòng! Thật khó tin là cũng bầu trời này, mặt đất này, hơn ba mươi năm trước, chỉ có người tù và những kẻ coi tù với bao khổ đau, thù hận! Giữa nghĩa trang Hàng Dương, tôi như nghe từ rừng dương già câu hát về người Người con gái Đất Đỏ đã trở thành huyền thoại: “Người thiếu nữ ấy như mùa xuân. Chị đã dâng trọn cuộc đời. Để chiến đấu với bao niềm tin...”!

Quá khứ của Côn Đảo đang nhắc nhở những người đang sống rất nhiều và để lại rất nhiều bài học quí cho hiện tại và tương lai. Xin hãy một lần đến với Côn Đảo thiêng liêng! Rất tự nhiên, nơi đây sẽ cho chúng ta những bài học sâu sắc về tình yêu Tổ quốc; về lòng kiên trung, bất khuất trước bạo ngược, cường quyền; tình đồng chí, đồng đội; niềm tin sắt đá ở lẽ phải và công bằng; cái giá của tự do độc lập; lòng bao dung, đức vị tha của dân tộc Việt Nam.
 
Nguyễn Quỳnh Trâm
Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN