Tôi cùng ông ngoại có mặt ở Nghĩa trang chưa đến 4 giờ sáng. Tay tôi run run, không bật nổi que diêm. Thắp hương trên mộ cha, lần đầu tiên tôi mới biết khóc cha. Tiếng khóc vỡ oà như trăm ngàn mảnh thủy tinh vỡ, thấm thía mất mát. Trước đó 10 năm, tôi trân trân nhìn mẹ vật vã “Các con ơi, cha mất rồi…” mà chưa hiểu thấu đau đớn khi vắng cha.
Cụ quản trang làm thủ tục bốc mộ. Từng xẻng đất xúc lên cũng là bấy nhiêu lần tôi thót tim... Tập kết ra Bắc khi trên mình còn mang đầy thương tích, cha tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ, tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ và hy sinh ở độ tuổi hai mươi. Nỗi ước hẹn trở về Huế không thành…Cụ ơi nhè nhẹ tay thôi kẻo làm ba con đau. Trên cơ thể ba con vẫn còn găm mảnh đạn. Chúng ký sinh hành hạ ba nhức buốt. Ba đã điều dưỡng ở nhiều trại thương binh...
Cụ Lâu đặt lên tấm nilong hài cốt cha. Cụ còn mò tìm trong đất, bùn không để sót dù chỉ là mẩu xương nhỏ. Ba đấy ư?... Ba đã từng đưa con theo đơn vị bộ đội, dạy con từng nét chữ đầu tiên, rịt từng chỗ đau khi con ngã, xúc thìa cháo nóng khi con ốm...
Nước mắt tràn nhoà, mặn chát, tôi cắn chặt môi đến bật máu. Trước mắt, cha hiện lên loang loáng giữa khoảng mây hồng. Cụ Lâu tắm rửa cho cha bằng nước thơm, gói hài cốt cha cẩn thận, bọc lá cờ Tổ quốc và nhiều lần nilông. Lần nào bốc mộ, cụ vẫn khóc. Giọt nước mắt như sương là chút tri ân với những người xa quê nằm tại nghĩa trang. Cụ cùng ăn, nghỉ với các chiến sĩ, giúp thân nhân đưa hài cốt về quê mẹ “80 rồi vẫn khoẻ là nhờ có linh hồn khôn thiêng của các anh, chị nằm đây phù hộ. Vắng ai tôi cũng thấy buồn…”.
Lòng tôi như có hàng trăm ngàn vết dao cứa. Thấm thía nỗi đau. Ôm hài cốt cha vào lòng mà ngẫm ngợi bao điều: Những khó khăn nối tiếp khó khăn, những tổn thất không dễ kết toán nổi, biết bao gia đình như thế, bao đứa trẻ côi cút không cha...
Những đứa trẻ thiếu cha luôn lấy cha làm điểm tựa. Tôi ghen tỵ khi bạn hãnh diện khoe cha. Tôi ao ước có cha hiện hữu trong đời chứ không phải trong giấc mơ để rồi thêm một lần thất vọng. Ghét nói dối thế mà có lần tôi đã khoe “Ba tớ sắp về rồi, mẹ bảo chiến tranh sắp kết thúc”. Nói vậy để tăng “liều kháng sinh”, trợ giúp tinh thần cốt để mạnh mẽ, cảm giác được bảo vệ và chẳng sợ bị bắt nạt. Các bạn không tin, kéo vào nhà chỉ ảnh ba trên nóc tủ. Tôi òa khóc và hiểu: không thể huyễn hoặc, che giấu được chuyện mất cha. Cái chết luôn rất thật. Mẹ về, tôi nín bặt, giấu nhẹm, sợ mẹ buồn trước suy nghĩ thơ ngây của con trẻ...
Tôi lặng lẽ mang hài cốt cha, không dám dời dù một giây. Hơn 2 giờ chiều, hai ông con về đến phố Lý Nam Đế (Hà Nội). Tôi định không nghỉ ngơi. Ông thở không ra hơi, từng cơn ho rũ rượi, quặn từng hồi như muốn trào khỏi lồng ngực. Vào quán ăn, tôi vẫn khư khư ôm bọc nilông. Ông đỡ từ tay tôi, đặt hài cốt trên bàn. Tôi xúc bát cơm, chan canh hến mời cha. Miếng cơm nghẹn cứng trong cổ, nước mắt chan lẫn cơm....Cha lặng im. Sự im lặng chứa đầy bão tố...
Về đến Từ Sơn (Bắc Ninh), quê đang gần lại. Tôi đi rất chậm chở cha cùng gió. Bọc nilông trĩu nặng yêu thương. Hai bên đường từ Tam Sơn đến cầu Nét, sang Nghiêm Xá nối tiếp những đầm sen. Những bông sen trắng, sen hồng vươn lên khỏi mặt đầm ngát hương “Nhớ không ba, mỗi khi qua đoạn đường này, cha thường xin chủ đầm hái cho con cả bó sen lớn. Có lần con vòi vĩnh đòi ngó sen, cha lội ngay xuống đầm, dúi tay vào đáy bùn kéo lên một ngó sen trắng nõn. Câu ca dao đưa con vào giấc ngủ chính là loài hoa lớn lên trong bùn mà chẳng hôi tanh”.
Đầm sen quê tôi
Vẫn con đường năm xưa cha chở tôi ngủ gật, hôm nay rơm vàng thơm trải thảm đón cha về. Tôi dắt xe qua thảm rơm, sợ đường xóc làm ba đau. Rơm ngày mùa óng ả thơm ngọt.
Bỗng một trận xoáy lốc, ném từng nắm cát thốc tháo. Rặng tre oằn mình ken két. Xe đứt xích. Mưa xối xả. Tôi tháo bọc nilông, núp dưới gốc đa đầu làng Tam Sơn, ôm chặt cha vào lòng. Người tôi như có lửa. Ông đưa lá sen, tôi che thêm cho ba và hứng trọn luồng gió, cơn mưa. Bao nhiêu năm nằm trong lòng đất lạnh, đất bao dung, chở che cha. Cơn mưa ào ạt rồi tạnh. Trời hửng, gió nhẹ, thoang thoảng hương đồng nội. Ông buộc dây kéo xe của tôi và hài cốt cha.
Ông chọn địa thế đẹp đặt hài cốt ba trong nghĩa trang làng. Bên nội muốn đưa ba về Huế. Đất nước đã thống nhất, “Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương”. Ngày về quê nội, mẹ khấn xin ông bà để ba ở quê mẹ. Lời cầu khẩn trong nước mắt của mẹ đã động lòng ông bà nơi 9 suối. Ba đã sống, chết trọn vẹn trong yêu thương của cả hai miền quê”.
Câu ca “Khôn đâu đến trẻ” có đúng với tuổi 18 cứ ngỡ còn vô tư, dại khờ, nông nổi? Với tôi, đây là chuyến đi để đời dù cuộc đời sẽ còn thêm nhiều lần xê dịch. Ông ngoại nói “Cháu đã góp phần làm nên một công trình tri ân của tuổi trẻ, trước là làm tròn đạo hiếu báo đáp đấng sinh thành, sau là thực hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, tìm đưa những người con hy sinh vì Tổ quốc đang nằm trên khắp mọi miền đất nước, kể cả ở nước bạn về đoàn tụ với gia đình, ấm áp trong lòng đất Mẹ”.
Thanh niên tình nguyện chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ
Tôi chưa dám nghĩ mình đã làm được điều lớn lao ấy, chỉ tự thấy lòng thanh thản, tích nhân điều thiện. Bịn rịn, chưa muốn dời mộ cha “Ba ở lại quê ngoại nhé! Quê ngoại chở che, bao bọc ba. Bao giọt nước mắt yêu thương đón ba. Bà con yêu quý san sẻ phần đất làng làm nhà mới cho ba. Phía trước là dòng sông Như Nguyệt thuở xưa Lý Thường Kiệt đã đọc “Nam quốc sơn hà...”. Bà ngoại đỡ tôi dậy. Từ phía làng, cậu tôi hớt hải chạy tới “Cháu ơi! Có giấy báo Đại học rồi. Cháu được đi học nước ngoài”...
Lê Thị Sông Hương