thethaovanhoa.vn

Một chuyến đi rừng

13/04/2009 18:49 GMT+7

Các anh mang con bỏ chợ. Dự án nhà máy không thực hiện được thì công nhân cứ trồng rừng có bị ế đâu mà không cho vay vốn. Không thể để công nhân sống dở chết dở như thế được”.Tò mò, tôi quyết định làm một chuyến thực tế...

(Bài dự thi) - "Các anh mang con bỏ chợ. Dự án nhà máy không thực hiện được thì công nhân cứ trồng rừng có bị ế đâu mà không cho vay vốn. Không thể để công nhân sống dở chết dở như thế được”. Đó là  ý kiến đầy bức xúc của ông phó chủ tịch tỉnh Thanh Hoá trong cuộc họp bàn giải quyết khó khăn khi triển khai Dự án giấy Thanh Hoá.

Tò mò, tôi quyết định làm một chuyến thực tế về Cty Nguyên liệu Giấy Thanh Hoá để tìm hiểu đời sống của công nhân trồng rừng ở đây. Mặc dù chuyến đi cách đây đã 3 năm nhưng tôi vẫn cảm giác như mình đang mang một món nợ nếu chưa viết về nỗi khổ cực của người trồng rừng.

Theo lời chỉ dẫn của giám đốc Công ty Nguyên liệu giấy Thanh Hoá, Mai Đình Hồng, tôi ra bến xe Giáp Bát tìm xe về Ngọc Lặc. Có lẽ là xe chạy ở vùng sâu vùng xa nên chất lượng không tốt lắm. Tuy nhiên, đây là chuyến duy nhất trong ngày nên xe vẫn chật ních người. Vừa bắt đầu lăn bánh, chiếc xe đã rung bần bật và kêu như xóc ốc. Ngồi một lúc tôi đã thấy đau ê ẩm cột sống và bắt đầu buồn nôn. Dù hơi hoảng khi nghe anh phụ xe “khoe” chiếc xe này được mua thanh lý đã 4 năm nay chưa phải thay tháo gì nhưng tôi vẫn tự an ủi là mình còn có chỗ ngồi tử tế vì nhiều người phải ngồi trên những chiếc ghế nhựa mà nhà xe để chèn vào giữa 2 hàng ghế. Mỗi lần xe dừng lại bắt khách là máy lại chết lịm. Những hành khách ngồi ở đầu xe phải đứng lên dạt ra 2 bên để anh phụ xe bật nắp ca bô, chui nửa người vào khoang máy, gí 2 đầu dây điện nào đó để ông tài đề máy khởi động lại. Đường về Ngọc Lặc ổ gà ổ voi liên tục nên mỗi lần chiếc xe chồm lên là khách lại dúi dụi vào nhau kêu oai oái. Ì ạch mãi tới hơn 3 giờ chiều xe cũng vào đến Ngọc Lặc. Tôi bước xuống xe với tấm thân mỏi nhừ và chiếc dạ dày sôi ùng ục vì bát bún riêu lót dạ lúc sáng đã tiêu tan trong lúc vật vã trên xe. Ông lái nhiệt tình thò hẳn đầu ra khỏi xe dặn với: nếu mai về Hà Nội thì cứ đứng đây lúc 3 giờ đêm, nếu không sẽ chẳng còn chuyến nào khác.

Xuống xe, tôi nhìn quanh định tìm nơi rửa mặt cho tỉnh táo và kiếm chút gì lót dạ thì đã có một cậu thanh niên đang trú nắng ở gốc cây bước lại hỏi: Chị là nhà báo phải không, anh Hồng bảo em ra đón chị. Thấy tôi ngơ ngác nhìn xung quanh, anh cười: em đi đón chị bằng “xe của bộ” thôi, vì bọn em ở đây đang trong tình trạng 4 không (không xe, không lương, không nhà, vì thế không cả người yêu vì nghèo quá nên ngại lấy vợ. Cũng may cơ quan cách đường cái có mấy trăm mét. Cảm giác đầu tiên của tôi là căn phòng làm việc quá đơn sơ, không thấy không khí làm việc của một cơ quan nhà nước.

Vừa nhìn thấy tôi anh Hồng hỏi ngay “Nhà báo muốn tìm hiểu gì ở nơi khỉ ho cò gáy này vậy”. Không để tôi kịp trả lời, anh đã thao thao độc thoại về Cty nguyên liệu Giấy Thanh Hóa, một công ty thành lập “ăn theo” để phục vụ nguyên liệu cho dự án nhà máy giấy Thanh Hoá. Cả một thời kỳ dài nhà máy bị ngừng trệ vì nhiều lý do, thế là việc trồng rừng cũng phải ngừng theo vì các ngân hàng từ chối không cho vay vốn. Cty phải vận động công nhân tự bỏ vốn trồng rừng, khi nào vay được vốn Cty sẽ thanh toán. Ai không có thì đành chịu để đất hoang.

Anh say sưa nói về tiềm năng rừng Thanh Hoá, niềm hy vọng của người dân khi nghe tin Nhà máy Giấy khởi công. Nếu nhà máy hoạt động thì cuộc sống của người dân 7 huyện miền Tây Thanh Hoá sẽ có cơ hội đổi đời, trường học, bệnh viện, khu du lịch sẽ mọc lên, con em các dân tộc ở đây sẽ không bỏ học để lên rừng kiếm măng, không lạ lẫm khi nhìn thấy điện về bản… Tôi có cảm tưởng như anh đã tìm được người để giãi bày nỗi bức xúc lâu nay thì đúng hơn. Tôi như bị cuốn theo những niềm vui nỗi buồn của anh. Có điều, mỗi lần cầm bút định ghi chép gì đó tôi lại phải căng mắt ra nhìn vì  mặc dù phòng anh đã lắp hẳn 2 bóng đèn tuýp, 1 bóng đèn tròn và có thêm hẳn chiếc ổn áp nhưng điện vẫn chập chờn như  đom đóm. Thao thao bất tuyệt đến hơn 7 giờ tối anh mới giật mình chợt nhớ: Chết nỗi, muộn quá rồi, nhà báo đi tắm giặt rồi còn ăn cơm. Lúc này tôi mới để ý chiếc dạ dày lép kẹp của mình đang biểu tình dữ dội. Sợ đang đói mà đi tắm không ổn, tôi từ chối khéo: lát nữa tắm sau kẻo để anh em chờ  cơm lâu không tiện.

Sau bữa ăn, tôi thật sự thấy áy náy vì anh Hồng cứ lúng túng không biết bố trí cho tôi ngủ ở đâu. Tôi đề nghị được đến khu tập thể nghỉ với chị em công nhân nhưng anh Hồng không nghe vì đến đó rát xa (khoảng hơn chục ây số). Cuối cùng, tôi cũng được bố trí nghỉ nhờ trong căn phòng khách mượn của trung tâm lâm nghiệp. Thú thật, ban đầu tôi hơi hoảng vì đây là khu làm việc nên ban đêm không một bóng người. Có lẽ đã lâu không có người ở nên căn phòng sặc mùi ẩm mốc. “Không sao, tôi tự nhủ, trong điều kiện khó khăn, được như thế là tốt quá rồi. Đang mệt thế này chắc sẽ ngủ ngon thôi”. Điều băn khoăn duy nhất của tôi là cả 2 chiếc cửa sổ đều bị mất một cánh, chấn song đã bị gãy nhiều, đến gấu cũng chui lọt chứ đừng nói người. Có điều, anh Hồng đã an ủi rằng ở đây an ninh cực kỳ tốt nên tôi cũng tạm yên tâm.

Vừa ngả mình xuống là tôi chìm ngay vào giấc ngủ. Bất chợt, tôi giật mình khi thấy nhói một cái dưới lưng, chưa kịp định thần xem là cái  gì thì lại nhói một cái ở chân. Không ổn rồi, chắc lại bọ chó hay rệp đốt đây. Khắp người tôi bắt đầu ngứa râm ran, càng gãi càng ngứa. Không thể cứ ngồi gãi, tôi lấy tờ báo ra trải và định ngủ tiếp nhưng không được, bây giờ không phải do ngứa mà do khát nước. Không thể kiếm đâu ra nước, tôi tự trách mình lúc tối đã quên không xin ca nước về đây. Hình như bữa tối vừa đói, vừa lạ miệng nên tôi đã ăn hơi nhiệt tình món rau má sống chấm mắm chua và món canh cá nấu rất ngon tuy hơi mặn. Biết làm sao bây giờ, tôi càng cố quên thì cơn khát càng giày vò. Nước bọt dẻo quánh trong chiếc cổ họng khô rát. Tôi cố nhắm mắt và trong đầu tôi cứ lởn vởn tưởng tượng những chai nước lọc lấy ra từ tủ lạnh mát đến tận ruột. Càng nghĩ càng khát, tôi đành cố nhịn nhưng ngủ quên đi thì thôi, giật mình dậy là cơn khát lại dày vò. Cuối cùng thì tôi cũng ngủ thiếp đi trong giấc mơ thấy mình đang ngụp lặn giữa dòng sông.

Sáng hôm sau, anh Ba - trưởng phòng tổ chức dẫn tôi đi gặp gỡ những người trồng rừng. Quả là ngòai sức tưởng tượng của tôi về sự vất vả của công nhân trồng rừng. Chị Nhị đội trưởng dẫn tôi lên đồi keo, luồng, nơi các chị đang phải tự lo vốn để trồng. Nhìn ngọn đồi cao sừng sững nhìn lên hút tầm mắt tôi không hiểu các chị gánh cây, nước, phân lên như thế nào để có thể phủ xanh được ngọn đồi. Trong khi tôi mới đi vài chục mét đã thở ra đằng tai, chị Nhị phải xách hộ túi, còn tôi vừa lựa cách đặt chân giữa đám lá rừng mà cứ lo giẫm phải rắn. Trên tay vẫn lăm lăm chiếc máy ảnh nhưng cũng chẳng chụp được nhiều vì cứ mải theo câu chuyện của chị.

Nghe chị say sưa kể về rừng, tôi như thấy tình yêu vô bờ bến của chị đối với vùng đất chị đã gắn bó từ khi nơi đây muỗi, vắt còn nhiều hơn cả cây rừng. Từ ngày chị còn phải học từ cách đẽo mắt luồng, cách chăm sóc các đốt luồng giống, đến nay chị đã đạt tới trình độ “thâm hậu”. Chỉ cần nhìn qua “nước da” là biết cây luồng mấy tuổi, kích cỡ bao nhiêu. Người không biết nhìn bụi luồng đang phát triển bình thường bỗng nhiên xanh tốt là mừng, còn chị lo thắt ruột vì biết bụi luồng sắp khuy (ra hoa), sẽ phải phá đi. Chị kể những ngày đầu gánh luồng lên đồi trồng. Người khoẻ cũng chỉ gánh được 30 kg – 40 kg lên đồi là bở hơi tai. Nếu phải đi xa thì phải mang theo cả cơm nắm, nghỉ trưa đã có sắn nướng, nước khe. Mỗi khi trời mưa mọi người được nghỉ còn các chị í ới gọi nhau đi trồng luồng. Trồng xong gánh luồng người cũng rét run, mặt mũi xám ngoét. Hôm sau lại hăm hở đi trồng nơi khác. Trồng được đã khó, giữ được cây luồng còn khó hơn. Chị rầu rĩ cho biết thơì gian gần đây luồng của đội bị mắc bệnh sọc tím, cả luồng và măng cứ bị mềm ra, đốt không cháy vì nước đọng ở trong. Nhìn hàng chục héc ta luồng bị chết dần mà quắt cả ruột.

Thế nhưng khổ nhất là chuyện canh rừng khi đến mùa măng. Chị đã từng kiện ra toà những trường hợp trộm tài sản rừng, chị cũng bị kiện vì bảo vệ của đội dùng súng bắn lâm tặc (may không chết người). Thế rồi sau đó ra sao? Tôi hồi hộp hỏi. Chị hóm hỉnh: Thì hôm nay tôi vẫn đang ở đây mà. Khi tôi hỏi chị có sợ bị trả thù không, chị cười: Chỉ cần Nhà máy Giấy đi vào hoạt động, công nhân được cấp vốn trồng rừng thì chẳng còn gì đáng sợ nữa.

Trong câu chuyện, thỉnh thoảng, người phụ nữ đã 54 tuổi phải dừng lại để kéo tôi qua những hỏm đá cao mà tôi không thể tự leo được. Vừa đi chị vừa chỉ cho tôi cách đoán tuổi của luồng, cách nhận biết những dấu hiệu của bệnh sọc tím ở luồng, cách phòng trừ bệnh do các chị nghĩ ra mà chưa sách vở nào nói đến… Và tôi thật buồn khi không đủ thông tin để trả lời câu hỏi của chị: “Bao giờ nhà máy giấy đi vào hoạt động”.

Lúc về, chị dẫn tôi lội tắt qua cánh đồng lúa dưới chân đồi để đi cho mát chân và nhanh hơn. Tôi hăm hở theo chị và quả thấy dễ chịu hơn thật, Chỉ có điều, lên bờ tôi đã hét toáng lên cầu cứu vì phát hiện có tới 2 con đỉa trâu to tướng đang lúc lỉu ở bắp chân. Bằng động tác rất thành thạo, chị Nhị nhổ nước bọt vào lòng bàn tay rồi vuốt qua chân tôi, Hai chủ đỉa trâu đã nằm gọn trong tay chị. Chị quăng chúng đi thật xa rồi xé mẩu lá nón rịt vào vết máu ở chân tôi với lời giải thích: Không có kinh phí trồng rừng, công nhân phải làm ruộng thêm mới đủ sống. ở đây môi trường còn trong lành nên mới nhiều đỉa thế này đấy.

Cái nắng miền tây Thanh Hoá thật oi ả. Trên đường về, vẫn những hành khách hay kêu ca, anh phụ lái vui tính và chiếc xe chết máy liên tục nhưng tôi hình như không còn say xe nữa. Đầu óc tôi lúc này cứ vẩn vơ nghĩ tới những chị công nhân đang gò lưng gánh nước lên đồi chăm chút cho từng mầm sống dưới ánh nắng chói chang. Không chỉ chống chọi với nắng gió khắc nghiệt, các chị còn phải tìm mọi cách kiếm kế mưu sinh trong điều kiện quá khó khăn vất vả với niềm hy vọng về Nhà máy giấy sắp đi vào hoạt động, rừng trồng sẽ có nơi tiêu thụ.

Trong đầu tôi luôn ám ảnh câu hỏi của chị Nhị: Bao giờ người trồng rừng nguyên liệu giấy ở Thanh Hoá mới qua được đận khó khăn thiếu thốn này. 

Ngọc Loan

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN