Ông mất từ ngày chúng tôi mới ba bốn tuổi gì đó. Ông bà làm nghề thuốc nam gia truyền, không có con, nhận mẹ tôi làm con nuôi từ lúc mẹ lọt lòng. Tôi biết chuyện này từ bé nhưng chưa bao giờ hỏi bà và mẹ vì sợ chạm vào nỗi buồn của cả hai.
(Bài dự thi) -
Một buổi trưa của năm thứ 3 đại học, tiếng loa từ ban quản lý ký túc xá dõng dạc gọi tên tôi có điện thoại. Vội vàng chạy xuống nghe, tai tôi ù đi vì đầu dây đằng kia chị họ tôi nói trong tiếng nấc thông báo bà ngoại tôi ốm nặng, phải về ngay may ra mới kịp gặp bà lần cuối. Chưa kịp nghe xong, chân tay rụng rời, tôi chạy thục mạng lên phòng nhờ người tức tốc báo cho em trai đang học ở trường bên cạnh. Chị em tôi hẹn nhau ở bến xe Kim Mã. Chiều, chỉ còn một chuyến xe khách duy nhất về thị xã- nơi cách nhà tôi 20 cây số và một chuyến phà qua sông Hồng. Ngồi trên xe, dù cố kìm nhưng hai dòng nước mắt cứ chảy dài. Nhìn sang cậu em trai bên cạnh thấy mắt nó cũng đỏ hoe. Khách đồng hành cũng như đoán được chúng tôi có chuyện buồn, họ nhìn với những ánh mắt chia sẻ.
Suốt chặng đường 120 cây số tôi như quên hết mọi sự xung quanh, không hề biết xe đi nhanh chậm thế nào, vượt qua những quãng đường xấu đẹp ra sao. Mọi giác quan và suy nghĩ đều hướng về người bà thân yêu của mình. Tôi nhớ y nguyên cảm giác sợ hãi với ý nghĩ rằng bà sẽ mất, rằng tôi sẽ vĩnh viễn không bao giờ được sà vào lòng bà nữa. Trong đầu tôi như có một thước phim quay chậm nhưng rất rõ nét về những ngày được sống trong sự che chở, dạy dỗ của bà. Phần lớn tuổi thơ tôi và em trai ở với bà dưới mái nhà lợp lá cọ, núp trong rừng cọ.
Ông mất từ ngày chúng tôi mới ba bốn tuổi gì đó. Ông bà làm nghề thuốc nam gia truyền, không có con, nhận mẹ tôi làm con nuôi từ lúc mẹ lọt lòng. Tôi biết chuyện này từ bé nhưng chưa bao giờ hỏi bà và mẹ vì sợ chạm vào nỗi buồn của cả hai. Chỉ dỏng tai nghe những người già nói chuyện rồi chắp nối biết bập bõm. Thế nhưng trong thâm tâm, bao giờ tôi cũng nghĩ bà là người sinh ra mẹ. Mỗi khi nắm lấy đôi bàn tay bà tôi thường bảo: bà nhìn này cháu có đôi bàn tay giống hệt đôi bàn tay của bà, giống từ những đường chỉ tay giống đi! Bà móm mém cười, tay giơ lên quệt nước cốt trầu bảo: cha bố cô, tôi chẳng đẻ ra mẹ cô thì đẻ ra ai? Tôi nhớ ngày bị sởi, cả người rộp lên như một mê cơm cháy, bà tất tả đi tìm lá mát sắc nước cho tôi uống. 6 tuổi tôi chạy trong vườn chè, vấp ngã gẫy cả răng. Chỉ đến khi bà ôm vào lòng an ủi, giải thích về cái sự thay răng sữa của trẻ con mới thôi nức nở. Ngôi vườn của bà là cả một thế giới hấp dẫn của chị em tôi với bạt ngàn mít, dứa, hồng, na, nhãn, vải... Mùa hè, sáng sớm nào mấy bà cháu cũng hò nhau đi vỗ mít, cắt dứa chín hay trảy hồng. Quả nào ngon nhất bà dành cho cháu, còn bà lại xếp vào thúng, đội nón tơi tất tả gánh đi chợ bán lấy tiền mua thức ăn cho cháu…
Bà tôi có biệt tài nắn gân, rút lại khớp xương cho người bị bong gân, chật khớp, gãy tay, gãy chân. Rồi chỉ bó ít gói thuốc nam tự tay bà hái trong vườn nhà là các nạn nhân khỏi bệnh. Thế nhưng bà không hề đặt ra một mức giá nào hết, tất cả là tùy tâm người trả, bao giờ bà cũng chỉ nhận chút ít, ai hoàn cảnh quá thì coi như làm phúc. Nhiều người sau đó đã nhận làm con nuôi. Một điều rất đỗi ngạc nhiên về bà đó là khả năng chữa bệnh bằng “thần chú”. Cứ thỉnh thoảng tôi lại thấy một phụ nữ vác bộ ngực đồ sộ do bị động vú của mình đến cầu cứu bà. Tôi không nhớ bà đã lấy đít nồi đất hay cái đấu hơ vào bếp lửa rồi huơ huơ trước ngực bệnh nhân, miệng lẩm bẩm đọc câu gì đó. Có thế thôi, họ chỉ ra khỏi cổng nhà bà đã thấy người nhẹ nhõm…
Đêm nào cũng vậy, trước khi đi ngủ bà kể cho chúng tôi nghe chuyện cổ tích và cả những câu chuyện trong làng, trong họ… Bà thường kết thúc bằng những lời răn dạy mà tôi đã khắc vào trong tâm trí. Bà bảo con người ta làm gì cũng đều có quỷ thần hai vai chứng giám thế nên phải sống thật thà, đức độ. Tôi đi học đại học, có người yêu là đưa về với bà. Lo cho cháu gái, bà cứ nắm lấy tay người yêu tôi dặn dò: con ạ, một chuyến đò còn nên nghĩa, hai đứa yêu nhau thì phải tính chuyện trăm năm, con đừng phụ bạc nó nhé! Trong mắt tôi, bà như một bà tiên trong chuyện cổ tích…
Chiếc xe khách dừng lại ở bến xe thị xã. Cỗ máy thời gian quay về thì hiện tại, tôi chợt tỉnh khỏi những miên man suy nghĩ. Chị em tôi bắt chiếc xe khác để đi tiếp 20 cây số nữa về với bà. Xe qua bến phà, chúng tôi nhanh chóng đi nhờ xe máy, được chở vào tận nhà. Anh em họ hàng đã chật cả sân. Bà nằm trên chiếc giường quen thuộc mà tôi đã ngủ cùng bà suốt thời thơ ấu. Dấu vết thời gian như càng hằn sâu thêm những vết chém nham nhở ở thành giường. Bà vẫn thường kể ngày bé tôi có một trò chơi ưa thích là cầm dao chém vào thành giường, bà sợ cháu hờn, cứ ngồi canh chừng cho cháu chơi đến khi chán vứt dao đi mới thôi. Ông cũng chẳng bào đi sơn lại mặc dù rất thạo nghề mộc, nghề sơn, bảo rằng để cho cháu lớn còn kể lại. Vậy mà, bây giờ bà nằm đó, da bọc xương, mặt hốc hác, mắt nhắm nghiền cứ như là đã về với tổ tiên. Tôi nắm lấy tay bà, thì thầm vào tai bà, các bác xúm vào bảo cháu gái đã về với bà rồi. Kỳ lạ thay, bà vẫn cảm nhận được, cơ mặt bà cử động, miệng như muốn nói gì đó nhưng tất cả chỉ thoáng qua. Tôi thương bà thắt lòng. Lần cuối về với bà cũng là lần cuối tôi được bóp tay bóp chân cho bà như ngày nào sau mỗi buổi bà đi hái lá thuốc hay làm vườn mệt nhọc.
Bà ngoại đã ra đi nhẹ nhàng, lành lẽ và an giấc ngàn thu trên cánh đồng quê rợp bóng cọ xòe ô che nắng.
Sông Thao