thethaovanhoa.vn

Đi Huồi Tụ gặp cô giáo mầm non

09/04/2009 17:33 GMT+7

Có nhiều người trong số họ là người ở các huyện miền xuôi nhưng đã gắn bó lâu năm với Kỳ Sơn như chị Nguyễn thị Hiền quê huyện Đô Lương hiện là hiệu trưởng trường mầm non Huồi Tụ đã công tác ở Kỳ Sơn suốt 12 năm nay.

(Bài dự thi) - Xã Huồi Tụ - Kỳ Sơn - Nghệ An với gần 100% cư dân chủ yếu là người H’Mông. Khơ Mú và Thái, được coi là một địa phương nghèo đói nhất nước ta hiện nay. Đời sống của giáo viên vùng cao Huồi Tụ cũng đang gặp vô vàn gian khó, đặc biệt là giáo viên bậc học mầm non.

Ô tô chúng tôi đi hết quãng đường 250km từ thành phố Vinh lên thị trấn Mường Xén huyện lỵ Kỳ Sơn Nghệ An không mấy khó khăn và cảm giác thật nhẹ nhàng khoan khoái. Tôi luôn cảm thấy thú vị với bầy gia súc của đồng bào các bản người Thái, người H’Mông ven quốc lộ gồm trâu bò, cả lợn và gà gô. Chúng hồn nhiên đúng chắn đầu ô tô chúng tôi mà không tỏ ra sợ sệt.

Từ thị trấn trung tâm huyện lỵ chúng tôi phải đi gần 30km đường rừng nữa để dến xã Huồi Tụ. Cái tên mới nghe qua đã thấy là xa xôi cách trở rồi thế mà anh chàng người Thái tên Thanh làm nghề chở xe ôm ở thị trấn Mường Xén nói rằng Huồi Tụ chưa phải là nơi xa nhất đâu. Những xã tên nghe có vẻ dễ gọi hơn như Mỹ Lý, Bảo Nam, Hữu Kiềm mới là xa. Riêng xã Keng Đu xa nhất. Từ Mường xén phải đi 80km đường rừng mất 5 giờ đồng hồ nữa mới tới nơi. Anh Thanh vừa rủ rỉ tâm sự vữa nhấn ga đưa chiếc min khơ leo lên con Dốc Đá dài gần 10 km. Riêng con dốc này đã chiếm gần 1/3 quãng đường chúng tôi đi từ trung tâm huyện lỵ vào xã Huồi Tụ. Đường đi khó vậy nhưng chúng tôi được bù lại bởi cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp với những bản làng người H’Mông, người Thái và Khơ Mú còn giỡ được những nét nguyên sơ, tất cả hiện ra trước mắt khiến tôi vui đến là lạ.

Cô giáo dựng lớp dạy học

Vì đã có hẹn trước nên chúng tôi đến thẳng trường mầm non xã Huồi Tụ. Cơ sở mầm non này mới có từ tháng 8 năm 2001, được xây cất trên một ngọn đồi cao nhất bản Huồi Đun. Chúng tôi đến nơi đúng vào lúc các cô giáo đang dựng nhà bếp. Căn bếp nhanh chóng được hoàn thành trong một buổi chiều. Nó chỉ là một cái lán nấu ăn nho nhỏ phủ tấm lợp chung quanh che chắn bằng phên nứa… Các cô giáo tranh thủ ngày thứ bảy cuối tuần để “lao động xây dựng cơ sở vật chất”, cô hiệu phó, Nguyễn Thị Hải vui vẻ cho biết.

Nhìn các chị làm những công việc nặng nhọc đáng lẽ ra không dành cho phụ nữ chúng tôi không khỏi cảm thấy ái ngại. Tôi hỏi sao các chị không nhờ chi đoàn thanh niên thôn bản giúp đỡ? Cô giáo Trần Thị Anh nhìn tôi vẻ thông cảm. “Chắc các chú ở dưới xuôi nên không biết. Không phải đồng bào dân tộc ở đây không chịu giúp đâu. Nhưng đang mùa gặt lúa, hầu hết họ đều đi rãy tối mịt mới về. "Họ ít có thời gian để có thể bỏ ra một ngày công giúp đỡ các cô giáo. Năm nào cũng vậy, những cô giáo chân yếu tay mềm vẫn phải tự mình dựng mới hoặc sửa sang các lớp học cho các cháu".

Có nhiều người trong số họ là người ở các huyện miền xuôi nhưng đã gắn bó lâu năm với Kỳ Sơn như chị Nguyễn thị Hiền quê huyện Đô Lương hiện là hiệu trưởng trường mầm non Huồi Tụ đã công tác ở Kỳ Sơn suốt 12 năm nay, và cũng ngần ấy năm chị phải đi dựng lán để mình cũng như đồng nghiệp có nơi đứng lớp.

Vào những dịp đầu năm học thì đồng bào ở các bản cũng co một đợt lao động làm lớp học cho con em. Điều này đã thành thông lệ và các cô giáo vẫn phải cùng cùng làm với bà con. Nhưng những lớp học được dựng bằng tranh tre nứa lá thường xuống cấp nhanh chóng và việc tu sửa lại phải do các cô đảm nhiệm. Cô Trần Thi Anh dạy ở Kỳ Sơn từ năm 2003 không giấu được nước mắt, chị nói: “Nhiều khi trời mưa, lớp dột, thương các cháu quá, thế là cô giáo lại bảo nhau trèo lên chữa lại mái tranh". Nhà chị ở huyện Con cuông, cách cơ sở mầm non Huồi Tụ gần 160 km. Chị phải cho con gái vừa mới 4 tuổi theo cùng vừa để dễ bề chăm con vừa được yên tâm nuôi dạy các cháu nhỏ trong bản.

Chị Anh tâm sự: “Như chị đây vẫn còn sướng đó chú. Khổ nhất ở đây có lẽ là chị Hải và chị Hằng hiệu trưởng. Chồng con chị Hải ở Anh Sơn, Gia đình chị Hằng ở mãi dưới thành phố Vinh. Có khi cả nửa năm các chị ấy mới được về với chồng con một lần.”

Và đi “rước” học trò đến lớp

Chị Nguyễn Thị Hải quê ở Long Sơn – Anh Sơn - Nghệ An làm công việc nuôi dạy trẻ ở Kỳ Sơn từ năm 1999. Chị kể lại ngày trước khi mới lên Kỳ Sơn chị phải cố gắng lắm mới quen được với địa hình và khí hậu của vùng núi cao thường lạnh về đêm và buổi sáng sớm, trưa về thì nắng gắt. Mùa đông có năm nhiệt độ xuống gần đến 00C. Những ngày lạnh giá như thế các cháu nhỏ cũng không thể đến lớp. Mùa đông ở đây thường không có mưa và các cô giáo phải đi chở nước ở những vùng thấp về mới có cái nấu ăn. Gian nan là vậy nhưng các chị vẫn quyết tâm gắn bó với nghề. Chị Hải tâm sự: “Mình đã có tuổi rồi. Lại nhận thấy hình như nghề giáo hợp với mình nhất nên biết gian khó nhưng vẫn phải ăn đời ở kiếp với nó thôi chú ạ.”

Thường thì không ai bảo ai, cứ sáng ra chị nào cũng phải rời khỏi giường khi con gà mới gáy lần hai, thổi cơm ăn sáng đến năm rưỡi là phải xuống cơ sở ở các làng bản.. Bản nào cũng cách xa cơ sở chính 5 đến 6 km đường rừng. Cơ sở bản Huồi Thăng, do cô Vi Thị Tắm phụ trách nằm cách cơ sở chính 8km. Chị Tắm nói với chúng tôi thế này: “Đi dạy xa thế mình cũng nản. Chắc sắp tới phải sắm xe máy thôi. Đi bộ 3 năm nay rồi đấy. Đường khó đi thật đấy nhưng có xe máy vẫn đỡ nhọc sức hơn. Mà khi mua xe máy cũng ngại. Lương mỗi tháng cũng ngót 2 triệu đấy nhưng bấy giờ giá xăng lên cao quá. Chỉ sợ không kham nổi tiền xăng xe thôi.”

Một lí do khiến các cô giáo mầm non Huồi Tụ phải đến cơ sở sớm vì còn phải đến từng nhà trong bản đón các cháu nhỏ đến lớp. Nếu không đến đón các cháu sẽ ngồi lì ở nhà chứ không tới lớp. Dân bản đã quen với tiếng gọi trẻ đi học mỗi sáng của các cô gióa mầm non. Nhiều nhà chỉ đến khi cô giáo đến gọi mới cho con đi học.

Chị Vi thị Tắm kể hồi chỉ mới chuyện về cơ sở Huồi Thăng. Có hôm chị đi gom hết các cháu ở cuối bản đến lớp rồi tiếp tục đi gọi các cháu ở đầu bản. Khi trở lại lớp thì không còn một bóng học trò nào, sau phải đến từng nhà nói với phụ huynh các cháu mới chụi đi học. Có một cháu lớp 5 tuổi tên Muế Chơ, người Khơ Mú thản nhiên nói: “Không phải cô giáo của con, không đi theo dâu.” Thì ra bọn trẻ còn chưa quen với cô giáo mới.

Việc vận động đồng bào cho con cái tới lớp cuãng là cả một vấn đề. Ở các bản người Khơ Mú và người H’Mông con cái thường phải theo cha mẹ đi ở rãy trong những mùa gặt lúa và làm cỏ. Họ thường ở lại trên rừng lâu ngày và cho con cái ở lại cùng vì không có người chăm sóc. Các cô giáo cũng chỉ có thể trông con cho họ ban ngày và vào những ngày thường thôi còn buổi tối và các ngày thứ bảy, chủ nhật thì các cháu vẫn phải chịu sự quản lý, chăm nom của cha mẹ. Một vấn đề nữa khiến những bậc phụ huynh vùng cao ít khi gửi con cái họ cho các cơ sở mầm non là do thiếu tiền đóng học cho các cháu. Mặc dù mỗi năm họ chỉ phải đóng chưa đến 100 nghìn đồng mỗi trẻ. Nhưng đó cũng là một khoản khó kiếm đối với những gia đình mà kinh tế tục túc tự cấp từ cái ăn đến cái mặc và chốn ở.

Câu chuyện của chúng tôi phải dừng lại vì đã đến giờ các cô giáo đi chở nước. Các chị cứ hai người một khiêng theo một cái can nhựa loại 20 lti đi xuống những con khe dưới thấp chuyển nước về chuẩn bị bữa tối. Chỉ còn chị Anh ngồi lại với chúng tôi. Chị lại rủ rỉ tâm sự: “Ở đây buồn lắm các chú ạ. Nhưng mình không thể bỏ đi được, phần vì nghề nghiệp tuy vất vả một chút nhưng có thể nói là đã ổn định, phần vì thấy thương các cháu nhỏ ở đây quá. Các cháu đều có hoàn cảnh khó khăn cả. cha mẹ tối ngày trên rừng còn đâu thời gian lo cho con cái. Mình ở đây cùng với đồng nghiệp nuôi dạy các cháu cũng là góp phần làm thay công việc của cha mẹ các cháu.”

Buổi chiều tối mưa gió ấy chúng tôi chia tay các cô giáo mầm non xã Huồi Tụ trở về xuôi với một niềm mong mỏi, cũng là mơ ước của không chỉ của 19 cô giáo mầm non Huồi Tụ mà của toàn thể nhân dân xã xã vùng cao này, Mong sao sớm có một con đường rải nhựa vào đến trung tâm xã và cô trò của trường mầm non Huồi Tụ không phải ngồi dạy và học trong những cắn lán tranh tre nứa lá nữa. Đó là một mơ ước lớn của một nơi được coi là còn khó khăn nhất nước ta hiện nay.

Hữu Vi

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN