37 năm trôi qua, Thành Cổ vẫn cái uy nghiêm sừng sững giữa đất trời Quảng Trị. Xuân đến vạn vật giao hòa, dòng người lại nô nức về đây dâng nén hương thành kính gửi đến những người con đã vĩnh viễn nằm sâu dưới lòng đất mẹ.
(Bài dự thi) - 37 năm trôi qua, Thành Cổ vẫn cái uy nghiêm sừng sững giữa đất trời Quảng Trị. Xuân đến vạn vật giao hòa, dòng người lại nô nức về đây dâng nén hương thành kính gửi đến những người con đã vĩnh viễn nằm sâu dưới lòng đất mẹ.
Tôi đặt chân lên mảnh đất Quảng Trị khi những hạt mưa lất phất rơi cuối xuân, làm ướt vạt áo khách bộ hành. Cơn mưa nhanh dứt, rồi để lại cái nồng nồng oi bức của mảnh đất miền Trung đầy nắng và gió này.Không khỏi bồi hồi xúc động, chúng tôi thế hệ trẻ của đất nước càng thêm tự hào về truyền thống dân tộc. Chỉ hơn một tháng nữa, nơi đây người dân cả nước tôi hướng về nhân kỉ niệm chiến thắng thành cổ ( 5/1972 – 5/ 2009).Đài tưởng niệm
Thành cổ nằm ngay trong trung tâm thị xã Quảng Trị. Cách quốc lộ 1A khoảng 2 km về phía Đông và cách dòng sông Thạch Hãn khoảng 500m về phía Nam. Nếu như ở bên ngoài có cái tấp nập của phố thị thì bước đến Thành Cổ khung cảnh yên tĩnh đến nao lòng. Hàng năm những người dân Việt Nam trở về đây dâng hoa, thắp nén hương tỏ lòng thành kính đối với những người anh hùng đã ngã xuống bảo vệ thành cổ, bảo vệ đất nước. Trong số đó còn có cả những du khách nước ngoài, bà con Việt kiều... Du khách đến đây thấy xao lòng trước làn nước trong xanh của dòng sông Thạch Hãn, những con sóng nhẹ đưa nhau vào bờ. Mặt nước gợn những đám mây ngũ sắc giữa bao la đất trời Quảng Trị.Ban đầu Thành cổ đắp bằng đất, đến năm 1827 được vua Minh Mạng cho xây lại bằng gạch. Sau này Thành Cổ vừa là công trình quân sự, vừa là trụ sở chính của nhà Nguyễn trên đất Quảng Trị từ (1909 – 1945). Đến năm 1972 trải qua 81 ngày đêm Thành Cổ như một túi bom của kẻ thù. 81 ngày đêm từng giờ, từng phút trôi đi là biết bao mất mát, biết bao máu xương trộn lẫn với từng nắm đất _non nước này.Hôm nay, khi trở lại trên những bức tường thành vẫn còn đó chi chít mảnh bom đạn của quân thù. Qua một chiếc cầu bắc qua con sông nhỏ dẫn chúng tôi bước đến cổng thành vào bên trong. Khác với tưởng tượng của tôi, Thành Cổ không có một ngôi mộ riêng nào cả. Sừng sững trước mặt tôi là một tượng đài tưởng niệm duy nhất giữa bốn bề cỏ non và cây xanh mơn mởn. Tôi thầm hỏi, nơi đây sau 37 năm ngày đất nước im tiếng súng liệu có ai biết đích xác bao nhiêu người con đất Việt đã nằm lại nơi này? Không thể nhắc đến mất mát qua những con số khô khan, mà đó là nỗi xót xa của cả dân tộc, cả một thế hệ đã anh dũng “xếp bút nghiên lên đường bảo vệ Tổ Quốc”.Tượng đài được xây dựng khá cao, hình tròn tượng trưng nấm mồ chung cho những người con đã vĩnh viễn nằm lại nơi đây. Bước lên đài tưởng niệm, du khách có thể nhìn được toàn cảnh Thành cổ. Tượng đài tạo ra một thế lưỡng nghi, trên là phần dương, dưới là phần âm. Phần dương có một lỗ thông từ dương xuống âm và hai nửa vầng trăng khuyết. Nó như một hình bát quái: Trong âm có dương và trong dương có âm. Phía bên dưới là phần âm, bên trong phần âm có đặt hành trang người lính (mũ và ba lô). Phần dương hướng lên trời với một cây Thiên Mệnh. Nó có ý nghĩa đưa linh hồn các chiến sĩ đến sự siêu thoát trên thiên đường. Cây thiên mệnh đó xuyên qua ba áng mây tượng trưng cho: Thiên, Địa, Nhân. Hành trang người lính.
Ở phía trên cây thiên mệnh có một ngọn nến, tượng trưng cho ánh hào quang toả sáng nơi nơi. Và cũng là để nhắc nhở thế hệ sau luôn nhớ đến công lao trời biển của cha ông mình. Dưới tầng mây cuối cùng gắn hình tượng trưng cho ba bát cơm cúng người đã khuất. Điều đặc biệt là ngoài vòng tròn có gắn 81 tờ lịch, thể hiện cho 81 ngày đêm chiến đấu ác liệt giữ Thành cổ của quân giải phóng. Khi đến mảnh đất này, từng đoàn người bước đến dâng hương, hoa tưởng niệm. Khúc mặc niệm vang lên là lúc thiêng liêng nhất, không ai cầm nổi nước mắt. Hình ảnh Thành cổ sẽ chẳng bao giờ phai trong lòng mỗi người. Dâng hương tưởng niệm các chiến sĩ
Khi cô hướng dẫn viên dẫn chúng tôi đến Bảo Tàng Thành Cổ, không khỏi xúc động trước những di vật còn nằm lại nơi đây. Là thế hệ trẻ, chưa một lần biết đến khói lửa chiến trường. Trong tôi có niềm tự hào và cảm kích. Nơi đây không chỉ minh chứng cho quá khứ hào hùng của dân tộc mà ở đó tôi biết: Những lá thư nặng lòng của người con gửi về quê mẹ, tinh thần lạc quan bởi những nụ cười ngời lên trong bom đạn…Các bạn hãy đọc những dòng nhật kí của Liệt sĩ Nguyễn Kì Sơn viết trước lúc hi sinh khoảng một tuần : “19/8/1972: Ngày mai tôi giáp trận. Ác liệt, đấy là một điều tất nhiên của chiến trận. Rất có thể, rồi đây tôi sẽ ngã xuống. Không can gì, đấu tranh là phải đổ máu. Có máu mới có màu đỏ, có chiến thắng. Không sợ chết, không sợ hy sinh, gian khổ. Cái chủ yếu là phải sống. Cuộc sống đẹp nhất là sống trong chiến trận. Cuộc đời đẹp nhất là cuộc đời được tôi rèn”. Thiết nghĩ trong thời bình hôm nay, đó vẫn là lí tưởng sống mà tuổi trẻ hôm nay noi theo bởi “cuộc đời đẹp nhất là cuộc đời được tôi rèn”. Tai tôi văng vẳng lời anh dặn: “Chào tuổi nhỏ! Anh ra đi cho các em đó mai sau!”. Trích trong bài thơ “Hành Quân” của anh. Và còn nhiều nữa những bức thư thấm đẫm lí tưởng sống của các anh những người con đã nằm xuống để rồi thôi thúc thế hệ trẻ hôm nay.Ra về mà lòng đầy những nỗi niềm chưa nói hết nên lời. Cầu chúc cho những linh hồn các chiến sĩ siêu thoát ở thế giới bên kia. Ngày mai, ngày kia từng cành cây, từng ngọn cỏ sẽ xanh mãi, xanh mãi …Từng nắm đất thiêng giữa đất trời Quảng Trị đã ôm trọn những người con nằm sâu dưới lòng đất mẹ. Nhìn làn khói trắng nghi ngút lan toả giữa bao la đất trời Quảng Trị trong tôi chợt nhớ đến những câu thơ của cựu chiến binh Lê Bá Dương, khi ông trở lại chiến trường xưa dải những bông hoa trắng xuống dòng Thạch Hãn:“ Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹĐáy sông còn đó bạn tôi nằmNhững tuổi đôi mươi thành sóng nướcGiữ yên bờ bãi mãi ngàn năm…”Đỗ Huyền Anh