Những tấm dale nối nhau e ấp giữa hai bên màu tím nuột nà của những bông hoa mắc cỡ trải dọc theo con đường làng. Màu xanh bạt ngàn của vườn cây trái sum sê và những hàng dừa nước hai bên bờ các con rạch mang tới cho mọi người một cảm giác thư thái, êm đềm.
(Bài dự thi) - Một ngày đầu năm 2009, tôi đi “ké” theo đoàn báo Tuổi Trẻ về Bến Tre thăm Bà mẹ Việt nam anh hùng Trịnh Thị Cẩn (bà mẹ được cơ quan báo nhận chăm sóc phụng dưỡng suốt đời). Thật ra, mục đích ban đầu của tôi là định làm một cuộc du lịch mi ni về xứ sở cù lao bên kia con sông Tiền, nơi mà địa danh luôn được nhắc đến gắn liền với cái tên Đồng Khởi, tên một phong trào đấu tranh của nhân dân Bến Tre. Cũng sẵn dịp tận mắt nhìn thấy cây cầu Rạch Miễu đã khánh thành được gần một tháng mà tôi chưa có dịp về thăm. Nhưng không ngờ chuyến đi ấy đã để lại trong tôi một ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc.
Khởi hành từ thành phố Hồ Chí Minh, sau hơn một giờ bon bon nuốt gọn gần tám mươi cây số quốc lộ 1A, trước mắt chúng tôi, cầu Rạch Miễu đã hiện ra sừng sững, uy nghi. Tôi nghĩ về nhịp cầu Ô Thước. Nhớ tháng bảy mưa ngâu. Chợt nghiệm ra rằng cầu đâu phải chỉ để nối đôi bờ, đâu phải chỉ để hóa giải nỗi đò giang cách trở. Nếu con chim Ô Thước cần mẫn để bắc nhịp cho tình yêu tìm về hạnh phúc. Thì hơn sáu trăm con người dãi nắng dầm mưa làm nên vóc hình cho Rạch Miễu kia đã nối từ bên này bờ ước mơ với bên kia bờ hiện thực không những cho người dân hai bờ sông Tiền mà còn cho triệu triệu trái tim biết yêu thương đất nước mình. Xe chầm chậm qua cầu. Gió từ mặt sông thổi lên rời rợi.
Cồn Thới Sơn xanh miết trải dài mấp mé mặt nước mang gương mặt tươi mới của một cù lao không còn cô độc nhờ có một nhịp cầu. Rồi đây Rạch Miễu sẽ vươn cánh tay rắn chắc của mình nâng ba dãy cù lao bay lên. Bến Tre sẽ là vùng đất hứa hẹn cho nhiều sự đổi thay kỳ diệu. Kỳ diệu như những gì mà mãnh đất này đã từng làm nên trong chiến tranh. Bỏ qua những thói đời thị phi không thể tránh, chúng ta có quyền tự hào về trí tuệ Việt nam, về sự tự lực tự cuờng của một thế hệ tiếp nối giỏi giang trong xây dựng đất nước. Bước đi ban đầu bao giờ mà không tập tễnh. Tự hào là khi ta dám bước một mình.

(Ảnh Internet)
Bỏ lại sau lưng chiếc cầu có tổng chiều dài tám ngàn ba trăm ba mốt mét, xe tiếp tục trôi trên những cung đường thênh thang, còn phảng phất mùi nhựa mới đưa chúng tôi về ấp Tân Qưới 2, xã Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày thăm má Cẩn, một trong hơn hai ngàn bà mẹ Bến Tre được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Những tấm dale nối nhau e ấp giữa hai bên màu tím nuột nà của những bông hoa mắc cở trải dọc theo con đường làng ngoằn ngoèo đưa chúng tôi vào nhà má. Màu xanh bạt ngàn của vườn cây trái sum sê và những hàng dừa nước hai bên bờ các con rạch mang tới cho mọi người một cảm giác thư thái, êm đềm. Anh Tám, một trong hai người con còn lại đang ở chung với má, đón chúng tôi bằng một bụng nước dừa xiêm vừa bẻ xuống trong vườn nhà ngọt và mát đến lịm người. Gặp má, cảm nhận đầu tiên của tôi là ngạc nhiên, ngạc nhiên đến không ngờ. Má hồng hào khỏe mạnh nhanh nhẹn. Môi đỏ. Nụ cười tươi. Vầng trán rộng. Tóc chỉ lốm đốm bạc. Giọng nói sang sảng. Đó lại là bà mẹ chín mươi hai tuổi đã gánh trên vai bao nỗi đau chiến tranh không gì bù đắp được. Tôi tự nghĩ không biết sức mạnh nào đã ẩn chứa bên trong người phụ nữ mảnh mai của ngày hôm qua ấy và một bà mẹ dong dải nhỏ thó của ngày hôm nay đây.
Nghe câu chuyện của má, tôi thấy mình thật nhỏ bé, nhỏ bé ở sự kiên cường, ở lòng dũng cảm và cả ở nỗi đau mà một người phải hứng chịu. Người đàn ông mà má luôn gọi bằng một giọng âu yếm là “chồng má” trong câu chuyện, thật ra chỉ thấp thoáng trong đời má. Chiến tranh đã dự phần vào cuộc đời họ bằng những ngày tháng chia ly tiếp nối chia ly. Năm 1968, được tổ chức bố trí cho bí mật lên thăm ba ở căn cứ Tà Lài. Mấy ngày yêu thương vợ chồng thật ngắn ngủi đó đã kịp hình thành trong má một sinh linh, mà cho đến hơn mười năm sau đứa bé ấy (chính là anh Tám bây giờ) mới lần đầu tiên được gặp cha. Nhưng chỉ có một mình má biết má đã phải trải qua những phút giây chồng vợ ấy như thế nào, khi mà cho tới giờ phút đó má không biết phải bắt đầu từ đâu để báo cho ba biết lần lượt ở quê nhà bốn người con của ba má đã hy sinh vì Tổ quốc. “Tao giữ con sao mà bốn đứa chết ráo trọi. Biết nói với ổng sao giờ. May mà ổng “bụp” có một cái, tao về đẻ ra thằng Tám…”. Má kể về nỗi đau thấu trời đất mà cứ nhẹ như không bằng một giọng hài hước nghe mà xót ruột. Tôi mới hiểu vì sao má đã mang được nỗi đau ấy băng qua hết một đời người. Chính vì má đã biết cách cất giấu nỗi đau riêng ở phía tận cùng bên kia niềm đau chung của đất nước. Hơn ba mươi năm chiến tranh lùi vào dĩ vảng (mặc dù dấu vết của nó để lại không dễ đã phôi phai). Cái gì qua đã qua rồi, cái gì mất cũng đã mất rồi. Nhưng lòng yêu nước trong mỗi trái tim chúng ta là mãi mãi. Bằng lòng yêu nước và trí tuệ Việt Nam nhất định chúng ta sẽ sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong muốn.

(Ảnh Internet)
Trở về, vẫn trên những cung đường cũ, vẫn cầu Rạch Miễu rời rợi gió sông, nhưng trong tôi cảm xúc mới lạ làm sao, như đứa trẻ lần đầu tiên chợt khám phá ra thế giới xung quanh mình. Một chuyến đi vừa giúp tôi nhìn lại quá khứ vừa ngó thấy tương lai. Tôi bỗng nghe lòng mình ấm áp trong một phút hoàng hôn còn vương vất hơi xuân.
Ngô Thị Thu Vân