Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều lớp học khi làm xong vẫn để trống cho mới vì không có em nào tới lớp. Vậy mà có những người cha sẵn sàng phá chiếc bếp cũ hoặc chặt cọc chuồng ngựa lấy cây dựng lều cho con để mong con chữ cũng được hồi sinh.
(Bài dự thi) - Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều lớp học khi làm xong vẫn để trống cho mới vì không có em nào tới lớp do phải ở nhà lấy vợ, lấy chồng. Vậy mà có những người cha sẵn sàng phá chiếc bếp cũ hoặc chặt cọc chuồng ngựa lấy cây dựng lều cho con ngay bên dòng suối để mong con chữ cũng được hồi sinh. Tôi đến đó khi còn là cán bộ ở đơn vị cơ sở. Lần ấy, trong tôi trào dâng bao cảm giác khác lạ đến nao lòng. Những tưởng…nhưng…chuyện là thế này:
Trong căn nhà trống hoác, gió lật tung những mảnh váy hoa căt nhỏ làm tã cho đứa con thứ 12 chuẩn bị ra đời. Ông Hờ Thống Thánh (dân tộc Mông) ở bản Trà Nọi, xã Quang Lâm, huyện Mường Nhé (Điện Biên) tựa tấm thân già nua, đen nhẻm vào cái cột bếp liêu xiêu sắp đổ nhìn theo bóng tôi đang khuất dần vào mé núi. Đã mấy lần tôi lặn lội băng rừng vượt núi đến nhà ông chỉ mỗi một việc là ông hãy nghĩ lại mà cho thằng con trai Hờ A Mua tiếp tục đi học lớp 5, đừng bắt nó phải nghỉ học lấy vợ như các anh nó chưa qua tuổi 15 đã phải ẵm con.
Thực ra ông Thanh cũng muốn con mình biết cái chữ nhưng vì gia đình nghèo quá, nghèo đến mức trong nhà chỉ có cái giường gẫy mà không biết kê vào đâu vì chỗ nào cũng dột. Bởi tại ông quá lạc hậu nên mới lấy vợ sớm, đứa con thứ 12 sắp ra đời mà không biết lấy cái gì cho mẹ nó ăn để lấy sữa cho con bú, nhìn đàn con nheo nhóc ông thương. Ông chưa bao giờ được đi học chữ, nhiều người Mông ở Trà Nọi cũng giống như ông. Bao nhiêu lần tôi đến vận động con ông, chứng kiến cảnh đó ông cũng mủi lòng. Cái bếp nhà ông sắp đổ, chỉ một cơn gió xoáy là nó bốc sang bên kia suối, có giữ nó lại cũng chẳng ích lợi gì. Ông chợt nghĩ đến thằng Mua, nó gần 15 tuổi rồi mà vẫn chưa học xong lớp 5, không cho nó đi học nó mù chữ, đầu óc u mê tăm tối rồi cũng bỏ đi như cái bếp cũ kia. Ông bảo với tôi “ừ thế thì tao sẽ phá cái bếp lấy cột mang đến trường dựng lều cho A Mua”

Bà Sồng Thị Giống mặc dù sắp đến ngày ở cữ nhưng biết ý định của chồng thì mừng lắm. Bà không muốn tất cả đàn con của bà tối ngày phải lam lũ, chưa biết làm ăn đã phải làm chồng, làm vợ. Nhà trường không có chỗ nội trú nhưng đã tạo điều kiện cho các em mượn đất, cho nước sạch để sinh hoạt, ủng hộ quần áo, sách vở. Ông Hờ Thống Thành và con trai biết tin đó liền đến ngay. Hai bố con hì hục san nền, dựng cột, lợp mái làm liên tục hơn một ngày thì xong. Xung quanh lều quây bằng cây nứa đập rập, bên trên lợp bạt xanh và chèn bằng cây gỗ cho không tốc mái.
Ngôi nhà mới dựng nên nhỏ như mỏm núi nhìn xa. Diện tích sử dụng khoảng 6m2 và cao bằng đầu người lớn. Bên trong duy nhất chiếc giường lấy cây rừng làm chân và chôn xuống đất cùng chiếc nồi nấu cơm, bát ăn thì dùng ống bương bổ đôi rồi cắt ngắn. Với một học sinh dân tộc thiểu số miền như thế cũng là đạm bạc và có thể yên tâm học chữ. Bữa cơm hàng ngày trộn sắn với muối trắng. Người lạ ở vùng xuôi lên chứng kiến người còn không có điều kiện làm lều cho con. Khi nào con hết gạo ông lại nhờ bà con đi nương hoặc xuống chợ cầm ra cho nó, rau tự thằng A Mua kiếm ngoài rừng nên gia đình không phải lo.

Ông Hờ Thống Thánh mù chữ từ nhỏ lại rất nghèo. Ông không biết chính xác tuổi mình bao nhiêu nhưng thằng con ông bảo bố nó đã 50 rồi. Vợ chồng ông đẻ nhiều nên quan năm nghèo đói. Nghèo không phải vì lười lao động mà do đông con. Lúc nào trong đầu cũng duy nhất lối nghĩ đã cũ, cổ hủ và lạc hậu. Trồng cây ngô thì ít hạt, nuôi lợn gà thì con chết nhiều hơn con sống do không biết cách chăm sóc, phòng chống dịch bệnh, thời gian đói kéo dài triền miên sau cả vụ lúa.
Nếu ông biết chữ thì xã đã lấy làm công tác xã hội vì rất hiếm gia đình nào ở đây lại có tư tưởng tiến bộ là dựng lều cho con cái học chữ như thế. Mấy đứa lớn mù chữ. Thằng Hờ A Mua năm học, năm nghỉ. Nó đã biết mang khèn đi tìm gái rồi vậy mà vẫn chưa bước chân vào học lớp 5. Ông thương nó nên quyết tâm phải cho thằng út học bằng được cái chữ, ít ra thì nó cũng biết nhà nó có mấy người. Thực ra ở Trà Nọi này hai học sinh trên không phải là ngừơi đầu tiên dựng lều để ở. Trước đó đã có một vài cái nhưng giờ thì bị mối mọt và mục ải do chủ lều bỏ học từ lâu.

Căn lều của Hờ A Mua lạnh tanh. Trước đây lúc còn nhỏ bố mẹ nó không dám cho nó ở một mình vì quá bé chưa biết tự nấu cơm phục vụ bản thân. Trong lều của Mua kê chiếc giường tự tạo, chân là 4 đoạn gỗ rừng chôn xuống đất, một cái nồi cơm, một cái bát sắt và một vở chăn cùng với chiếc đèn pin đi lại trong đêm tối vì xã chưa có điện.
Sau giờ lên lớp, Hờ A Mua tự lo cuộc sống của mình. Lần đầu tiên xa nhà đêm nó cứ khóc thút thít hoặc buồn lại bỏ về nhà. Tôi nhớ có lần hai hôm không thấy nó đâu hoá ra nó hết gạo ăn àm bố mẹ chưa gửi xuống nên nó về nhà lấy. Hôm sau vẫn chưa thấy nó quay lại, tôi đến hỏi bố nó bảo: “Tao không biết mà, nó mang khèn đi bắt vợ” bản bên rồi…Thằng Hờ A Mua liệu rằng có giống bố nó không? Rồi cả đời úp mặt vào nương mà không thấy mặt trời. Tôi đi vùng cao đã nhiều. Thế đấy, có những chuyện mà chẳng thể đặt tên.
(Trai Mông có tục đi “bắt vợ” còn gọi là Háy Pù. Nếu thích người con gái nào thì họ nhờ bạn bè rình bắt, lôi cô gái về nhà mình. Sau 3 ngày cô ta không bỏ về có nghĩa là đã đồng ý làm vợ)
Hoàng Văn Hiệp