Thuộc thế hệ họa sĩ hưởng “đặc ân” của làn gió đổi mới, ở Đinh Quân hầu như chẳng gợi lên chút gì của hình ảnh người họa sĩ nghèo trong căn phòng tối…
(TT&VH Cuối tuần) - Thuộc thế hệ họa sĩ hưởng “đặc ân” của làn gió đổi mới, ở Đinh Quân hầu như chẳng gợi lên chút gì của hình ảnh người họa sĩ nghèo trong căn phòng tối… (trong suy nghĩ có phần lạc hậu của nhiều người, họa sĩ thường là nghèo). Trái lại, anh “ở nhà lầu” (5 tầng hẳn hoi), “đi xe hơi” (mà là xe Lexus có giá không dưới 100.000 đô), lại có “vợ hoa hậu” (người đẹp Ngô Thúy Hà, người mẫu Việt Nam đầu tiên có hợp đồng làm việc với một hãng thời trang nước ngoài, cụ thể là Nhật Bản).
Mà tất cả đều nhờ…bán tranh (dĩ nhiên trừ…vợ). Đinh Quân chủ yếu vẽ sơn mài, những bức sơn mài sang trọng, đẹp mắt đến…nịnh mắt và đắt tiền, lại có một phong cách rất riêng mà nhìn vào đấy, người ta có thể nhận ra ngay tác giả. Làm nghệ thuật viên mãn thế, ở Việt Nam, đâu được nhiều người.
Thế rồi bỗng dưng, không phải bỗng dưng…muốn khóc, mà bỗng dưng kinh ngạc vì một ngày, đến xem Hát trên cánh đồng xanh (6-18/3 tại Bảo tàng Mỹ thuật VN, Hà Nội), cuộc triển lãm cá nhân lần thứ năm của Đinh Quân tiếp sau một số triển lãm trước đó của cùng tác giả được dư luận nghề nghiệp chú ý như Giấc mơ đỏ (2002), Gió nóng (2004), như thấy một Đinh Quân khác! 16 bức sơn mài khổ lớn, 16 khối tượng, một cuộc trình diễn ánh sáng và một bộ phim dài 18 phút với chủ đề nông thôn và nông dân.
* Tại sao bỗng dưng anh lại thích thú với đề tài nông thôn với những cảm giác khắc khoải và dữ dội như vậy trong khi nhìn anh đích thị là thị thành lịch lãm?
- Không đâu, tôi là người quê, xuất thân con nông dân ở làng Nhu, ngoại thành Hải Phòng. Hiện hai anh trai và một người chị gái tôi vẫn sống ở làng, vẫn làm nông nghiệp, mẹ và ông bà ngoại tôi đều là nông dân của làng này. Họ sống và chết cũng gắn với đất làng.
* Tức là sau bao năm “thoát ly”, triển lãm này là để nhớ lại ký ức?
- Tôi thực hiện triển lãm Hát với cánh đồng xanh để tri ân với nơi mình đã sinh ra. Ở đó có những gia đình đời này qua đời khác gập lưng úp mặt xuống cánh đồng, với hy vọng “ai khó ba đời”… Tôi thương cảm, trân trọng họ. Tôi ước gì những người bạn nông dân của tôi cũng sẽ đến xem triển lãm này. Và ước muốn có ngày sẽ đem được triển lãm này về làng tôi và về những làng quê khác.
* Có vẻ như không đơn giản chỉ là một hành động tri ân, anh đã đặt rất nhiều thời gian và tâm huyết cho triển lãm này, như nó còn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp nghệ thuật của anh?
- Quả có vậy. Từ 1997, khi làm triển lãm cá nhân đầu tiên, tôi đã nung nấu ý tưởng về triển lãm này. Nhưng phải sau 12 năm mới thực hiện được. 16 bức sơn mài bày trong triển lãm này tôi làm trong bốn năm. Riêng 16 bức tượng làm trong hai năm, mỗi tượng tôi làm cả tháng vì kích thước lớn (cao 2 mét, năng tới 80 cân). Để có không gian làm việc và cất giữ tượng, tôi phải trưng dụng cả vườn chuối rộng 500 m2 ở chân cầu Thanh Trì mua hồi năm 2000. Mùa thu 2008, mẹ tôi mất ở tuổi 83, đó là thời điểm tôi quyết tâm làm bộ phim về những bức tượng. Đạo diễn Phạm Lộc, nhà quay phim Trần Hùng, đạo diễn âm thanh Bành Bắc Hải chính là những nhà tài trợ quý báu của tôi khi thực hiện bộ phim này. Phải thuê xe tải lớn chở tượng ra bãi cát thuê bên sông Hồng, dưới chân cầu Thanh Trì, quay mất 3 ngày đêm ròng rã. Tôi mong khán giả nhìn kỹ những chân dung ấy, để xót xa, chia sẻ, thương mến và trân trọng hơn với những người nông dân, những người chiếm hơn 80% dân số Việt Nam và thói quen, bản chất, tập quán, ý thức của họ ảnh hưởng không nhỏ đến 20% dân số còn lại.
Khi còn trẻ, mình không có nhiều ngẫm ngợi gì, cuộc sống cứ trôi đi theo kiểu nước chảy đến đâu bèo trôi theo đó. Nhưng càng về sau này, tôi càng thấy rõ hơn về nông thôn, nơi mình được sinh ra. Mà thật ra, bất cứ vùng nông thôn, làng quê nào cũng vậy thôi, cuộc sống khó khăn, vất vả luôn đeo bám người nông dân. Tôi muốn nói thẳng ra là người nông dân thuộc chốn thấp nhất của xã hội cả về vật chất lẫn tinh thần, tri thức hay văn hóa. Mới đây, trên VTV1, người nông dân ở đâu đó nói rõ, tính ra, ngày công của họ chỉ trị giá 1.000 đồng!
* Thật khó tin anh lại trầm tích tâm trạng như thế, khi cuộc sống viên mãn của anh đang khiến nhiều người mơ ước!
- Thiếu thốn vật chất quá không thể bình yên mà sống và sáng tạo được. Tôi tạo dựng cuộc sống từ lao động hội họa và ghét thói đạo đức giả của những người bảo chỉ cần nghệ thuật, không cần tiền. Có tài thì phải lo được cuộc sống cho mình, cho vợ con, vẫn phải vẽ để bán được và vẽ những gì mình ấp ủ. Tôi sống nặng lòng, ẩn giấu vào trong, sâu thẳm tôi yếu mềm và đa cảm. Còn sự lãng mạn là bản chất.
* Nhưng có phải nhờ tranh mà anh tán được người đẹp Ngô Thúy Hà?
- Đầu năm 2003, tôi đi cùng một người bạn mang hộ ảnh để đến đưa cho người mẫu. Tôi xem ảnh, không thấy đẹp, hóa ra là nàng “diễn” để chụp thời trang. Khi gặp, thấy bất ngờ vì vẻ đẹp tự nhiên và giản dị của Hà. Lúc đó, tôi không nghĩ là mình yêu Á hậu Việt Nam 1998, yêu một người mẫu, mà là yêu một cô gái sống chân thật. Hà là con út một gia đình 5 chị em gái, bố mất lúc Hà 20 tuổi. Mãi tới tháng 5/2004, tôi mới tặng Hà bức tranh vẽ cô ấy mặc áo dài trắng, buộc tóc, mắt mở to trong sáng và tháng 1/2005, chúng tôi cưới. Có người vợ trẻ hơn 15 tuổi, am hiểu thời trang, mình là họa sĩ, cứ giản dị quá không được. Chú ý đến việc mặc đẹp nhưng không quá lệ thuộc vào hình thức, tôi coi trọng sự sang trọng, tự tin toát ra từ thần thái và phải nuôi dưỡng tầm hồn đẹp, điều đó quan trọng và quyết định.
* Hai vợ chồng anh đang chuẩn bị đón một “hoàng tử”. Bận rộn làm cha và sức ép của mưu sinh liệu có làm anh chậm tiến độ các dự án nghệ thuật kế tiếp?
- Tôi sẽ triển lãm tranh tượng vào cuối năm nay. Tượng bán thân, khỏa thân, những người đàn bà không thấy mặt, phồn thực và khêu gợi. Sẽ có một sắp đặt Bữa tiệc, bày tượng người đàn bà khỏa thân màu đỏ trên bàn, với 12 bộ dao - dĩa - thìa tượng trưng cho 12 tháng. Thực khách, tất nhiên không dùng dao dĩa mà thưởng thức “đại yến của mỹ cảm” bằng thị giác, cảm giác.
* Bận rộn thế, anh có về làng thường không?
- Tôi rất thường xuyên về làng. Bạn thơ ấu, nhiều người đã là ông nội ông ngoại. Đa số họ vẫn sống ở đấy. Làng Nhu của tôi không có biển, nhưng có sông, có đê, ao, lũy tre, cây đa, bến nước, sân đình như những làng quê đặc trưng đồng bằng Bắc Bộ.
Giờ thì bầu trời quê hiếm vắng cánh diều, càng khó nghe thấy sáo diều, đồng dao. Làng Nhu của tôi không thoát được cơn lốc đô thị hóa, người quá đông và đất chật đi. Dòng sông Văn Úc, lúc bé tôi ước bơi được qua, giờ như con mương đục ngầu. Cánh đồng bao la tít tắp, giờ bé lại, nhà cửa chen chúc lấn át tầm nhìn.
* Hình dung người đàn ông 45 tuổi tóc đã nhuốm bạc, về làng mình, trước cánh đồng, dòng sông quê, anh đi một mình hay cùng các bạn niên thiếu, như đứa trẻ hay của một người trung niên hồi ức ấu thơ?
- Tôi thường đi dạo bên sông, trên đường ruộng, trước cánh đồng. Một mình. Nhưng luôn thấy xôn xao tiếng cười, nói, la hét, đuổi bắt, chí chóe của những đứa bạn từ hồi bé đến lúc vỡ giọng, biết yêu. Mọi âm thanh, hình ảnh kỷ niệm như cuốn phim quay chậm đồng hiện. Quên thân xác 1m70 đã bắt đầu đẫy đà và tuổi 45, tôi như một chú bé mới lớn vụng dại, đầy ham muốn khám phá. Bằng nỗi nhớ và tiếc nuối, ký ức những năm ở làng Nhu giúp tôi khám phá, tìm lại mình, ngơ ngác và trong trẻo. Hát trên cánh đồng xanh là mốc mở đầu hành trình ấy.
Vi Thùy Linh (thực hiện)