Người dân ở những vùng quê nghèo là vậy. Đóng cửa để sống! Không cần biết sinh sống bằng gì, không cần biết như thế nào là điều kiện tốt cho con, hình như họ vẫn quan niệm “trời sinh voi, trời sinh cỏ” và nếu còn sinh đẻ được là họ cứ… làm thôi.
(Bài dự thi) - Chúng tôi rời Hà Nội trong tiết trời mưa lâm thâm của mùa xuân xứ Bắc, về xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là chuyến đi khảo sát thực tế tình hình trẻ em nghèo, mồ côi, tàn tật thuộc dự án “Ngôi nhà thứ hai” của tổ chức phát triển cộng đồng Đức Việt và là chuyển khảo sát đầu tiên.
Với chuyến khảo sát này, chúng tôi có nhiệm vụ chọn ra 5 em có hoàn cảnh khó khăn, đưa về Hà Nội chăm sóc, nuôi dưỡng để các em có điều kiện thoát khỏi sự khốn khó của làng quê.
Ngồi trên xe, chứng kiến con đường nhựa bằng phẳng nối vào xã, cả đoàn, không ai bảo ai đều lo lắng cho 1 chuyến đi bất thành bởi có thể sẽ chẳng chọn được em bé nào để thực hiện chương trình. Nhưng khi cắt khỏi con đường nhựa nhuốm màu đô thị đó thì mọi cảm giác e ngại đã bị bỏ qua. Xã nghèo dần dần hiện ra với con đường đất đầy bụi ngoằn nghèo những ổ gà, ổ chuột, 2 bên đường là những cánh đồng đang mùa cạn, trơ khốc… Vài ngôi nhà xây khang trang cũng không che nổi sự nghèo khó, thiếu thốn của vùng quê chỉ cách Hà Nội khoảng 60 cây số này.

Ông Gia lấy vợ hai sau khi mừng thọ được 3 năm. Vợ hai của ông là một người phụ nữ đã ở vào tuổi ế ở vùng quê nghèo. Cứ tưởng ông lấy vợ để có người bầu bạn, chăm sóc lúc tuổi già. Ai ngờ, đầu năm cưới, cuối năm đôi vợ chồng ấy sinh ra một đứa con. Cũng may, bố già, ốm yếu thường xuyên nhưng bé Bảy lại chẳng mấy khi đau ốm.
Người mẹ bị rám một bên mặt, năm nay mới 38 tuổi, chỉ kiếm sống bằng việc trồng lúa, trồng khoai nhưng nước tưới tiêu… thường xuyên không có, bà than thở với chúng tôi “Nhà tôi có đồng nào là đổ vào chữa trị cho ông ấy hết. Ông mới được đi cấp cứu, chắc khó qua khỏi”.
Chúng tôi đưa mắt nhìn ngôi nhà, một ngôi nhà trống hoác, nếu không biết có thể những người khách lạ sẽ cho rằng, ngôi nhà này đã bị bỏ hoang khá lâu. Sự sống duy nhất thể hiện ở đây là một gầm giường đầy khoai lang, món ăn “tủ” của bé Bảy. Người mẹ tâm sự: “Mẹ con tôi gần như chỉ ăn khoai, ăn rau thay cơm. Thậm chí tôi còn không có tiền để đóng tiền học bán trú cho con. Nó thường xuyên đòi mẹ phải đóng tiền cho nó ăn ở lớp với bạn bè”. Có lẽ bé cũng không thể biết được cuộc sống của bé sẽ ra sao khi chỉ chưa đầy 3 tháng nữa, người mẹ của bé lại sinh ra cho bé một đứa em.
Chẳng ngại ngần, người mẹ kể khổ “Nếu ông ấy mà mất đi thì chẳng hiểu tôi sẽ sinh đứa bé như thế nào”. Chúng tôi im lặng.
Không thể chỉ trích những người nông dân chỉ suốt ngày “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” mà không đủ ăn khi trong nhà chỉ có vài cân khoai là tài sản đáng giá. Họ đâu có được tiếp xúc với xã hội văn minh để hiểu rằng, người phụ nữ đẻ con ngoài 35 tuổi là không tốt, nhất là với một người chồng đã ở tuổi 73. Ai nhìn bé Bảy cũng cho rằng, bé đang có triệu chứng chậm phát triển, chỉ có mẹ bé chắc không thể biết được, đằng sau sự lớn quá tuổi của đứa con (trên 25 kg) là bao nhiêu nguy cơ rình rập bé.

Em bé thứ 2 chúng tôi tiếp xúc, bé Nguyễn thị Dung, là con thứ 4 trong một gia đình có 5 chị em gái, cũng ở trong gia đình cứ… sinh vô tội vạ như vậy. Người bố, ông Nguyễn Văn Phong, sức khỏe yếu lại luôn trong tình trạng say sưa nên chẳng làm ăn gì ngoài việc thi thoảng đi phụ xây ở thôn làng.
Khi chúng tôi đến ông Phong đang bận ru đứa con nhỏ, mới chỉ 15 tháng tuổi ngủ giấc trưa. Hỏi thăm về đứa con gái đang là đối tượng của chuyến khảo sát, ông còn không nhớ nổi nó mấy tuổi, tên gì, cứ nhầm lẫn lung tung giữa những cái tên Dung, Dinh, Duyên, Diên…
Tay ôm đứa con nhỏ đang ngủ dở mắt, ông hồn nhiên trả lời “sẽ đẻ cho tới khi có con trai mới thôi”. Nhìn quanh ngôi nhà, tài sản lớn nhất của họ là một bộ ấm chén sứt mẻ, ngôi nhà có 2 cái giường, mạng nhện giăng mùng chằng chịt khắp mái nhà, tường nhà. Ngôi nhà xập xệ, không khác gì một ngôi nhà đã bỏ hoang lại đang là nơi ăn chốn ở của 2 vợ chồng và 5 đứa con, chưa kể nguy cơ sẽ có thêm vài đứa nữa ra đời, nếu đứa bé tiếp theo chưa phải là con trai...
Rời xã Bồ Lý khi ánh chiều đã chạng vạng, đoàn chúng tôi lên xe với tâm trạng nặng nề. Do kinh phí còn eo hẹp, chúng tôi chỉ lên kế hoạch chăm sóc, nuôi dưỡng được 5 em nhỏ, còn những trường hợp khác sẽ ra sao? Nhưng dù có thêm vài chục tổ chức nữa như chúng tôi, có thể cũng không đủ lực để nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em của cả một xã như vậy nếu chính những người nông dân cả đời nghèo khổ ấy chưa biết cách tự cứu bản thân mình, con cái mình, nếu những người nông dân ấy vẫn quanh năm “đóng cửa để sống”.