thethaovanhoa.vn

Đăk Lăk - Tây Nguyên: Voi ơi, đi về đâu?

23/02/2009 13:51 GMT+7

Năm 2020 voi nhà Tây Nguyên sẽ chỉ còn trong huyền thoại. Dự báo đó sẽ trở thành hiện thực nếu bây giờ địa phương không có biện pháp bảo vệ đàn voi.

(TT&VH) - Nền “văn hóa voi” là chữ dùng của PGĐ Sở VH,TT&DL Đăk Lăk, ông Trương Bi, khi nói chuyện với chúng tôi về những gì voi đang đem lại cho mảnh đất này. Còn Voi thì còn văn hóa đậm bản sắc, còn thu hút được khách thập phương. Mất voi thì mất cả.

Nền “văn hóa Voi” Tây Nguyên trước ngưỡng suy tàn?

Ông Trương Bi gửi đến chúng tôi ý kiến khẩn thiết của Già làng Aê Nô ở Buôn Trí, huyện Buôn Đôn (Đăk Lăk – vùng đất nhiều voi nhất Tây Nguyên): “Buôn Đôn có 4 con voi già yếu không tham gia được hội voi tới đây, 2 con bị bọn lâm tặc bắn chết khi đang kiếm ăn trong rừng. Nếu theo đà này thì chỉ 5 năm nữa thôi đàn voi nhà Buôn Đôn sẽ không còn. Không còn voi thì Buôn Đôn – Đăk Lăk sẽ không còn lễ hội voi, lúc đó du khách sẽ không đến với chúng ta nữa. Nguyên nhân là do rừng bị tàn phá, không còn nơi để voi sinh sống. Bên cạnh đó, trong luật bảo vệ rừng, Nhà nước cấm săn bắt thú rừng trong đó có voi, nên đã hơn 10 năm nay các đội săn voi của Buôn Đôn, Ea Súp không dám tổ chức đi săn. Mặt khác, luật tục M’nông truyền thống nghiêm cấm đàn voi nhà sinh sản, nếu voi nhà có chửa thì cả chủ voi đực và chủ voi cái sẽ bị phạt rất nặng. Nguyên nhân cuối cùng là bọn lâm tặc luôn rình rập để bắn voi lấy ngà”. Những nguyên do căn bản trên đã khiến đàn voi nhà ở “đất voi” này ngày càng héo mòn, thưa thớt.
 
Voi chở khách ở Bản Đôn

Những ngày hội ở Tây Nguyên hiện nay thường được tổ chức đồng thời các sự kiện: ẩm thực văn hóa, diễn tấu cồng chiêng, hát dân ca, biểu diễn văn nghệ, đẩy cây, nhảy bao bố, đi cà kheo, hội trại, “ăn trâu” (đâm trâu) mừng mùa mới… Nhưng tiêu điểm của các ngày hội này luôn luôn là các hoạt động độc đáo sản sinh từ văn hóa voi: voi chạy đua trên cạn, voi bơi vượt sông, voi nhà biểu diễn săn bắt voi rừng, voi đá bóng, voi ném cây, voi kéo vật nặng, voi kéo co với người… thu hút hàng vạn ánh mắt nhìn thích thú. Từ bao đời nay, cư dân bên dòng Srepok đã có nghề săn voi và thuần dưỡng voi rừng, đến mức đã phát triển thành một vùng văn hóa voi độc đáo của Tây Nguyên. Voi không chỉ gắn với phong tục, tập quán, đời sống kinh tế mà còn tạo nên một nền văn hóa sinh động. Từ ngày giải phóng đến nay, du khách trong và ngoài nước đã biết đến Buôn Đôn của cao nguyên Đăk Lăk chính nhờ ở đây có một nền văn hóa voi độc đáo.

Sau giải phóng, đồng bào Buôn Trí của Già làng Aê Nô vẫn giữ nghề săn voi và thuần dưỡng voi rừng. Những người săn voi nổi tiếng thời bấy giờ được con cháu tới nay còn ca tụng là ông Nay Hoang săn được 350 con voi, ông Y Pui săn được 320 con voi, ông Y Them săn được 113 con voi… Những con voi săn được sau khi thuần dưỡng thành voi nhà đã được mang bán cho các buôn làng ở Đắk Lăk, Gia Lai, Kon Tum và các nước láng giềng như Lào, Campuchia, Thái Lan…

Ông Trương Bi nói: Sau giải phóng, chỉ tính riêng ở Đăk Lăk có trên 800 con. Voi giúp cho công cuộc thống nhất đất nước, từ chở binh, tải đạn, thậm chí còn tham gia đánh trận. Có những trận chống càn, hàng trăm con voi dàn hàng ngang, hú lên khiến giặc càn khiếp sợ. Hòa bình lập lại, voi lại kéo gỗ, kéo cày, sản xuất và bảo vệ buôn làng. Nhưng đến năm 1994 chỉ còn có 300 con. Và hiện nay còn khoảng 54 con. Nguồn voi “mỏng dần” vì không hề được bổ sung.

Năm 2020 voi nhà Tây Nguyên sẽ chỉ còn trong huyền thoại

Cần coi voi là biểu tượng văn hóa, di sản văn hóa của đồng bào. Các tập tục quan trọng nhất của đời sống đồng bào như cúng, nghi lễ đều có voi cả. Hai năm một lần, Đăk Lăk tổ chức ngày hội voi, nhưng voi ngày càng “thưa vắng”. Rừng cạn kiệt, voi ngày càng già cỗi chết dần chết mòn, không cho săn voi rừng, voi bị… “triệt sản” bởi luật tục là những lý do chính dẫn tới hậu quả này.
 
Đuôi voi được rao bán ở Bản Đôn với giá 30 triệu đồng/ chiếc. Ông Trụ cho rằng, bán như vậy là vẫn còn rẻ, bởi 1 sợi lông voi đã có giá 200 – 300 ngàn đồng, nhưng là một hành động vô đạo đức. Hiện đã có những người làm giả lông đuôi voi bằng sừng trâu ngâm mềm rồi chuốt mảnh để bán cho khách du lịch.

Ông Trương Bi cho rằng, nhiều người không hiểu về săn voi. Đồng bào chỉ săn voi con về thuần dưỡng, sau khi đã đuổi voi bố, voi mẹ bỏ chạy. Nếu không cho săn voi, không cho thuần dưỡng, liệu nghề truyền thống của đồng bào có giữ được không? Cần khoanh vùng rừng để thả voi, đồng thời phối hợp với nghệ nhân cho voi nhà sinh sản trở lại, cần trao đổi với bà con thay đổi quan niệm cho rằng voi đẻ rất xui, hiện buôn làng vẫn phạt cả nhà có voi đực lẫn voi cái, phạt tới mấy chục con trâu, thậm chí phạt mất cả con voi. Voi thả vào rừng thường bị mất ngà, lột da do săn trộm, vì vậy khu rừng rất quan trọng. “Báo TT&VH hãy đề nghị Chính phủ đi. Đăk Lăk mất voi sẽ không còn văn hóa voi, Đăk Lăk sẽ rất tẻ nhạt, và văn hóa không còn sinh động nữa” – ông Trương Bi nói.

Già làng Aê Nô cho rằng: “Theo ý tôi, phải cho các đội săn voi của Buôn Đôn, Ea Súp được săn voi con đưa về thuần dưỡng để bổ sung vào đàn voi nhà; giành riêng một khu rừng giàu để thả voi sau khi đã được thuần dưỡng và để voi nhà có điều kiện sinh sản được; có chính sách ưu đãi đối với đội ngũ những người săn voi, thuần dưỡng voi và các gia đình có voi, tạo điều kiện cho họ có ý thức bảo tồn đàn voi nhà. Có như thế đàn voi nhà Buôn Đôn, Ea Súp và các địa phương ở Đăk Lăk mới phát triển được để phục vụ văn hóa lễ hội, phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước”.

Ông Bi còn kể rằng, gần đây đồng bào săn được một con voi con, chính quyền đã chiểu theo luật phạt đồng bào và thả con voi vào rừng Yok Đôn. Nhưng chỉ ít lâu sau là con voi chết, vì nó không chịu được cảnh sống một mình. Người nghệ nhân (Grui, hay còn gọi là nài voi) biết con voi cần cái gì, người và voi hiểu nhau như cha con thì mới cùng tồn tại được. Xem thuần dưỡng voi rừng thì biết, người ta đánh con voi rất đau, thậm chí dùng gỗ gai để buộc vào cổ nó. Nhưng sau đó họ vỗ về, họ cho ăn uống, chủ không đến là con voi kêu, con voi nhớ, nói nghe được, bảo quỳ là quỳ, bảo đi là đi, biết nó đói nó no, đây là một nghệ thuật trong dân gian không thể thay thế được. Tại sao đồng bào làm được mà nhà nước vứt vào rừng thì voi lại chết?

Ông Nguyễn Trụ, GĐ Cty Du lịch sinh thái Bản Đôn, người sở hữu 3 con voi nhà kể: “Tôi mua được 3 con voi hồi còn rất rẻ, chỉ 60 – 70 triệu đồng/ con, giờ giá đã gấp ba lần. Bắt về thuần dưỡng, khi xỏ tai voi thì đặt tên, từ đó voi là một thành viên trong gia đình cho đến khi nó chết và được mai táng. Voi yêu ai thì đung đưa, ghét ai thì lấy vòi đẩy nhẹ, sợ ai thì đứng yên, người mà hay trai gái lăng nhăng trèo lên lưng là nó lắc. Vì vậy ở Bản Đôn các bà vợ chỉ cần có con voi trong nhà là khỏi lo chồng bồ bịch! Ngày tôi mua voi, người nài cũ đến ở một tuần, trước khi đi còn đứng nói chuyện với voi bằng tiếng dân tộc: mày ở lại đây nhé, ở đây có nhiều nước, nhiều thức ăn, mày không phải vất vả, đây là chủ mới của mày. Rồi ông nài đặt tay tôi lên mình voi. Con voi hiểu cả, nước mắt ròng ròng, nó tiễn người chủ cũ ra tới cổng rồi mới quay lại”.
 
Về số lượng voi hiện tại ở Đăk Lăk, ông Trụ có con số lạc quan hơn ông Bi: khoảng 70 con, nhưng quan điểm thì trùng lặp: “Trước năm 2000, săn voi là một nghề đầy tự hào của đồng bào. Chính sách như hiện nay thì voi càng ngày càng mất dần, tôi có thể cay đắng mà nói vậy. Không xa nữa đâu, năm 2020 thôi voi ở đây sẽ chỉ còn trong huyền thoại” – ông Trụ nói.

Mong rằng những ý kiến này được các cơ quan chức năng lưu tâm tới.

Thế Vinh
Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN