Đêm Mường Lò nhớ những đôi mắt đen, nhớ câu hát mềm môi “anh có về Nghĩa Lộ với em không?...”, tiếng sạp gõ đều đặn, hơi rượu nồng nàn, những bờ tóc mai mềm mại…Nhớ câu thơ “Bông hoa ban nở ra cô gái Thái” trong nghìn câu thơ tài hoa…
(Bài dự thi) - Một chiều trên bến Âu Lâu hay một đêm mê hoặc ở Mường Lò, vị ngọt của chè tuyết suối Giàng hay cái dẻo thơm của nếp Tú Lệ, những khoảnh khắc hồn nhiên và giản dị ấy đã đến với tôi trong năm đầu đại học, một chuyến đi thực tế thật đáng yêu của chúng tôi, những cây viết trẻ mới chập chững vào nghề trên những tuyến đường lãng du, bí ẩn của Yên Bái - một tỉnh miền trung du Bắc Bộ thanh bình.
Độ ấy đang là mùa xuân, trời lắc rắc mưa phùn, hoa đào vẫn còn hồng môi trên rẻo cao. Chiều trên bến Âu Lâu cúc dại huyền hoặc miên man và sương giăng giăng trên vai áo, Âu Lâu hiu hắt buồn như mắt người thiếu phụ chờ chồng, cái nắng cuối chiều tháng ba rơi rớt, chúng tôi mỗi người im lặng theo đuổi một ý nghĩ của mình, nhưng dường như nỗi buồn thấm lạnh cả những tâm hồn còn bé bỏng. Tôi không biết gọi tên những cảm giác ấy, chạnh lòng nhớ nhà thơ Lê Đạt đã sinh ra ở đây, nét trữ tình thơ ông cứ vấn vít trong tôi chiều Âu Lâu buồn lạnh đó, giờ ông đã yên nghĩ nơi “thung xanh reo vui”, về với Âu Lâu khói sương man mác.
Đường lên Yên Bái những ngày ấy ngát vàng ngô phơi, những nương ngô chỉ còn trơ cành lá, hai bên đường, rắc đầy ngô, cái lành lạnh của mùa xuân dường như không mảy may chạm đến chúng, bởi những nếp nghĩ thủng thẳng, bình lặng vẫn hằng tồn tại dưới những mái nhà lợp cọ đã cũ màu. Đường lên Suối Giàng quanh co huyền hoặc, xa xanh mênh mang, cảm tưởng như cả hoàng hôn đang nhuốm màu lên từng gốc cây ngọn cỏ, chẳng còn muốn nghĩ gì hết, thấy mình như đang trong mơ, không một ai trong đoàn nói một lời. Qua những ngày đó, nhớ lại thấy mình đã biết buồn một cách chân thành và thấm thía làm sao, “những nỗi buồn kiều mị và trong sáng”. Nhấm vị ngọt của chè tuyết, nhặt hòn cuội ở con suối không tên, muốn ở một mình dẫu rất lạnh, ở bên bờ suối có những cây gầy khẳng khiu, những loài cây không biết đến mùa xuân, tôi đã khóc. Tôi cảm thấy mình yêu nơi này, niềm yêu thanh thản những gì bình dị như quê hương mình vậy.
Đi thuyền trên hồ Thác Bà giữa mùa xuân, thấy đất, nước ở đây mềm mại, yên lành tựa hồ hạt cây nào rơi xuống cũng có thể nảy mầm vậy. “Hạ Long trên núi” mênh mang và thân thiện đến kỳ lạ và tôi cũng mang cái ước muốn kỳ lạ trong lòng mình, ước gì có một ngôi nhà nhỏ xuôi theo triền sông, ngôi nhà rực rỡ hoa cải vàng, ngôi nhà ríu rít tiếng trẻ nhỏ và rười rượi gió sông, ngôi nhà ẩn mình dưới lá rũ và thơm thơm mùi đất ẩm. Trầm hương trong đền Mẫu và sóng nước Thác Bà cứ quyện mãi, quyện mãi không rời.
Đêm Mường Lò nhớ những đôi mắt đen, nhớ câu hát mềm môi “anh có về Nghĩa Lộ với em không?...”, tiếng sạp gõ đều đặn, hơi rượu nồng nàn, những bờ tóc mai mềm mại…Nhớ câu thơ “Bông hoa ban nở ra cô gái Thái” trong nghìn câu thơ tài hoa…
Vị cay nồng của mắc khén và măng ớt khi xa còn nồng nồng se sẽ trên môi. Một vài năm hay mươi mười mấy năm nữa có lúc nào tôi trở lại Yên Bái, tìm lại những cung đường xanh nắng, xanh sương, xanh mưa, xanh cả tâm hồn tuổi dại u hoài, mộng mị?
Võ Thị Hà