
Một chuyến đi
Tôi không phải là một hướng dẫn viên du lịch nhưng tôi lại có điều kiện để tiếp xúc với rất nhiều người bạn ở cách chúng ta nửa vòng trái đất. Tôi gọi họ là “bạn” theo đúng cách mà chúng tôi thường hay gọi nhau.
(Bài dự thi) - Tôi không phải là một hướng dẫn viên du lịch nhưng tôi lại có điều kiện để tiếp xúc với rất nhiều người bạn ở cách chúng ta nửa vòng trái đất. Tôi gọi họ là “bạn” theo đúng cách mà chúng tôi thường hay gọi nhau.
Người trẻ nhất trong nhóm bạn Mỹ của tôi cũng bằng xấp xỉ tuổi ông nội ở quê của tôi. Họ là những cựu chiến binh đã từng tham gia chiến tranh ở Việt Nam, khi rời xa cuộc sống nhà binh họ trở về cuộc sống thường ngày nhưng những dư âm của những cuộc tàn sát đẫm máu với dân tộc Việt Nam vẫn làm họ cảm thấy tội lỗi, ân hận.
Họ sang Việt Nam mỗi năm một lần để làm công việc từ thiện, họ đứng ra bảo trợ cho những nạn nhân chất độc màu da cam. Đi đến đâu, họ cũng nhận được sự cảm thông những vòng tay nhân ái của những con người Việt Nam, kể cả với những anh bộ đội Việt Nam đã từng một thời là kẻ thù của họ. Tôi gặp họ cách đây 3 năm, mỗi lần sang Việt Nam tôi đều cùng họ đi thăm những thắng cảnh Việt Nam, đi gặp lại những người ngày xưa đã từng là kẻ thù của họ và thắp lên những nén nhang tại những ngôi chùa, những ban thờ của các gia đình cách mạng có người hy sinh để mong cho linh hồn họ được che chở và vơi bớt đi phần nào tội lỗi mà họ đã gây ra cho dân tộc và con ngưòi Việt Nam.
Tôi thường gọi đùa họ là những ông bạn già, những bà già nhưng tâm hồn của họ làm cho tôi thấy thật trẻ trung và dễ gần gũi. Nếu ai đó đã từng một lần bắt gặp đoàn chúng tôi thì họ cũng khó quên được những hình ảnh cả đoàn 13 người Mỹ, 2 người Việt Nam khi tới thăm trung tâm bảo trợ trẻ em khuyết tật Hồng Ngọc ở ngoại thành Hà Nội. Tôi bắt gặp những ánh mắt buồn, những giọt nước mắt khi họ nhìn thấy những trẻ em khuyết tật ở đây.Nhìn những đứa trẻ Việt Nam tàn tật do chất độc màu da cam gây ra mà trên môi luôn nở những nụ cười chào đón những người mà đáng lẽ ra chúng phải hận thù.
Những chàng trai, cô gái đang ở độ tuổi mười tám, đôi mươi vẫn cần mẫn với từng đường kim, mũi chỉ bằng những đôi tay, đôi chân không còn lành lặn của mình để tạo ra những sản phẩm thêu mà người bình thường lành lặn cũng khó có thể làm được. Một sự so sánh, một nỗi xấu hổ len lỏi trong tâm trí tôi, những câu hỏi dồn dập tại sao họ vẫn có thể lạc quan để sống và làm việc như vậy? tại sao mình là một người lành lặn nhưng mình lại không thể làm được những việc như vậy vân vân và vân vân những câu hỏi. Lặng lẽ quan sát họ, có một động lực nào đó thôi thúc tôi phải làm một việc gì đó để giúp cho họ nhưng tôi đành bất lực. Tôi không đủ tiền để có thể mua một bức tranh thêu hay một món quà kỷ niệm nào đó để đóng góp một phần nhỏ vào việc giúp đỡ họ. Để tránh những lời mời chào mua hàng, tôi lặng lẽ ra xe và làm bạn với anh tài xế đợi đoàn.
Hinh ảnh 15 người chúng tôi nối tay nhau đứng xung quanh những mâm cơm chay tại chùa Kim Liên – Hà Nội để cầu khấn, ước vọng về một thế giới không có chiến tranh và cùng nhau hô vang hai tiếng “ Hoà bình” bằng tiếng Việt mà thấy sao thiêng liêng tự hào dân tộc.
Những chuyến đi của chúng tôi là những kỷ niệm, những nụ cười và cả những giọt nước mắt. Hình ảnh 15 con người trên chiếc xe du lịch uống rượu vang Đà Lạt cùng hát, cùng nhảy không phân biệt già trẻ, trai gái, màu da hay dân tộc. Những bài hát ca ngợi dân tộc, con người Việt Nam, những câu hát trèo, những làn điệu dân ca làm nức lòng bao tâm hồn người Mỹ, những bài ca phản chiến mà người dân Mỹ đã từng hát để phản đối chiến tranh ở Việt Nam được họ hát say sưa trên suốt các chặng đường.
Hình ảnh những gia đình Việt Nam nghèo mà tình nghĩa, những em nhỏ vây quanh những ông da đen, xoa xoa cái đầu hói của ông trưởng đoàn, hình ảnh những cụ già thấy Tây về thăm làng cũng cố chống gậy ra xem, những cái bắt tay, những cái ôm như không muốn rời của những ngừơi lính mà cách đây hơn 30 năm mỗi người họ là một chiến tuyến, những bức ảnh để ghi dấu ấn mỗi địa điểm chúng tôi đến, những con trâu được ghi trên bụng những cái tên Ed, Kate, Nikor… tất cả đều là những kỷ niệm đã theo những người bạn của tôi về Mỹ để những người chưa có dịp sang Việt Nam hiểu hơn về đất nước, con người nơi đây.
Hơn tất cả là những gì họ học được, họ nhìn thấy và họ khâm phục . Năm nay họ lại sang Việt Nam, tôi lại có dịp gần gũi họ và bằng một chút tình cảm của mình giúp họ xoa dịu đi những nối đau chiến tranh. Tự hào biết mấy khi tôi sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Việt Nam có phong cảnh hữu tình, có những con người mộc mạc giản dị nhưng vô cùng hiếu khách. Để có được cuộc sống hoà bình như ngày hôm nay dân tộc Việt Nam đã phải đánh đổi bằng bao nhiêu mồ hôi và cả những giọt máu để những lớp trẻ như chúng tôi được hưởng trọn niềm vui và hạnh phúc. Tôi đã từng đến Thành cổ Quảng Trị - nơi đây là hàng ngàn những nấm mồ vô danh của cha anh chúng tôi và chúng tôi đã khóc. Chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng nhưng dư âm của nó vẫn còn làm day dứt bao tâm hồn những con người Việt Nam cũng như người Mỹ.
Chứng kiến những cuộc tàn sát, những trận bom mìn dội xuống đầu nhân dân Irắc mà báo đài vẫn đưa tin tôi thấy thế hệ trẻ chúng tôi thật hạnh phúc bởi chúng tôi được sinh ra và lớn lên trong hoà bình. Hai tiếng hoà bình nghe sao thiêng liêng biết mấy.
Nguyễn Thị Ngọc
Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN