thethaovanhoa.vn

Ea Tân - ngày mới

20/02/2009 13:33 GMT+7

Rời Ea Tân trong buổi sớm tháng ba, khi mặt trời hắt lên những tia nắng chói chang ngay từ lúc mới ló lên trên rẫy cà phê như mọi ngày, tôi chợt cất lên rất cao hứng “em cao nguyên nhỏ dại, em cao nguyên huyền thoại...vừa thật gần vừa xa xôi...”

(Bài dự thi) - Mười bốn, trăng hạ huyền vằng vặc trên bầu trời trong vắt. ánh trăng bàng bạc, lung linh trên con đường đất đỏ. Bất giác, tôi chạm phải mùi hương nồng nàn. “Mùi hoa cà phê đó”- người lái xe, tên Tâm, bảo tôi.

Cái lãng mạn trai trẻ lại bật dậy: “Anh cho xe chạy chậm thôi được không?”. Như để tỏ tấm lòng đồng cảm với người đồng hương ở cao nguyên này, Tâm cho xe đi luồn lách giữa bạt ngàn cà phê, tránh con đường đang trải mù mịt bụi sau những bánh xe ngoài kia. Vài lần, anh dừng xe, giục tôi khoác áo ấm. Tôi thì vẫn đang mê mải với cảm giác se se lạnh giống đêm thu ở ngoài quê nhà. Dù ở ngoài đó, giờ này đang hun hút gió mùa và mưa bụi.  Và, xe càng đi sâu qua các buôn làng, bỏ lại những thị trấn, thị tứ  tôi càng rất muốn nói rằng, tình cảm của người đồng hương nơi xa xứ là anh đã làm tôi ấm áp lắm rồi, anh Tâm  ơi!

I- Tháng ba Tây Nguyên.

Tôi về Ea Tân một cách tình cờ. Đến Buôn Ma Thuột công tác, thủ trưởng hỏi: Có muốn đến với người Hưng Yên ở cao nguyên không? Đương nhiên tôi đi liền. Ô tô dừng ở cây số 52 quốc lộ 26 (Khánh Hoà- Đắc Lắc), thuộc huyện Ea Ka, tôi hỏi cánh lái xe thồ (xe ôm) vây quanh về cộng đồng người Hưng Yên ở đây, một số người nói họ chính là người Hưng Yên. Thật ra thì người Hưng Yên ở Đắc Lắc khá nhiều, ngay ở Chợ 52 này cũng có khoảng trên trăm hộ đến định cư. Nhưng cái tính lang bạt kỳ hồ của tôi lại bắt tôi đến cách xa đó 54 cây số.

Ea Tân là xã vùng sâu được tách ra từ xã Đliê Ya và thành lập theo Nghị định 100/2003/NĐ- CP của Chính phủ, nằm ở phía bắc huyện Krông Năng, cách trung tâm huyện 25 km. Với diện tích đất tự nhiên 5.353ha, xã có 2.320 hộ với 8.653 nhân khẩu thuộc 8 dân tộc anh em sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số có 408 hộ, 1727 nhân khẩu. Là một trong những xã được thành lập muộn nhất nước nhưng chỉ trong vòng hơn hai năm, Ea Tân đã tạo dựng được bộ mặt cho riêng mình. Trụ sở HĐND, UBND được xây dựng khang trang với tổng số vốn đầu tư gần 700 triệu đồng; điểm bưu điện văn hoá xã trị giá 120 triệu đồng; trường Tiểu học với 16 phòng học kiên cố, trường THCS  với 10 phòng học; đến tháng 6.2005, toàn bộ 16/16 thôn trong xã đã được kéo điện lưới quốc gia phục vụ sản xuất và sinh hoạt của bà con.


Muốn biết đời sống của cư dân nơi nào, chỉ cần nhìn vào cái chợ của nơi ấy. Chợ Bãi Bằng nằm ở trung tâm xã. Trong quy hoạch, chợ sẽ được xây dựng “hoành tráng” ở khu đất phía trong. Hiện tại, tuy chợ mới chỉ có những cái quán được ghép bằng những tấm ván gỗ tạm bợ nhưng tấp nập vào ban ngày và rộn rã vào ban đêm. Mỗi một ngày, chợ có 9 phản thịt lợn và một quầy thịt bò. Rồi cá biển, đậu phụ và hàng ngàn thứ hàng hoá khác. Một đặc điểm khiến cho chợ ở vùng này khác với bất kỳ một cái chợ nào ở đồng bằng là quanh chợ có rất nhiều cửa hàng xăng dầu và điểm đại lý điện thoại công cộng. Chỉ một vòng quanh chợ Bãi Bằng, tôi đã nhâm nhẩm được tới 4 “cây xăng” và hàng chục điểm điện thoại. Với một xã có hơn tám nghìn nhân khẩu thì một cái trung tâm mua bán như thế cũng bình thường, nhưng đặt vào hoàn cảnh một xã "vùng 3" ở một tỉnh cao nguyên thì mới thấy được sự phong phú của nó.

Con đường từ huyện lỵ Krông Năng đi đến Ea Tân dài 25 cây số, nhưng mới chỉ được trải nhựa đến Ea Tóh. Hôm tôi đến Ea Tân, chỉ đi có một đoạn đường cấp phối dài 5 km từ Ea Tóh về mà đã đỏ hoe cả đầu tóc, mặt mũi. Con đường đang được nâng cấp thành đường nhựa, từng đoạn, từng đoạn đất đá ngổn ngang. Tháng ba, hoa Pơ- lang nở đỏ trời, hoa cà phê trắng rẫy và bụi cao nguyên bốc lên mù mịt sau mỗi làn xe. Bây giờ vẫn đang là mùa khô, ngày ngày hàng trăm máy bơm cỡ lớn ì ầm tải nước từ các hồ đập lên rẫy đảm bảo cho hàng trăm héc ta cà phê đậu quả. Hạn hán năm 2005 làm cho hồ đập của nhân dân tự đắp khô cạn, 233ha cà phê không có nước tưới.. Chủ trương của xã sẽ đề nghị Nhà nước đầu tư một số công trình thuỷ lợi ở Cư Drông, Ea Đinh... để đảm bảo nước tưới cho khoảng 70% diện tích cây trồng. Nhưng đó là chỉ tiêu tới tận năm 2010, còn ngay năm 2006, nhiều gia đình đã tự cải tạo lại hệ thống hồ đập của mình để dự trữ nước đúng thời vụ. Nhà anh Đặng Duy Hiển đầu tư hàng trăm triệu đồng cho nạo vét hồ chứa nước. Nói là “cái hồ” cho “bình dân” thôi chứ thực ra, với diện tích 8x4m mà sâu tới 40 mét thì phải gọi là cái giếng mới đúng. ấy thế mà mùa này, qua hai lần tưới, đã nhìn thấy những cái vây lưng của lũ cá dưới hồ trồi lên khỏi mặt nước đang cố quanh quẩn tìm chỗ trốn khi thoáng thấy bóng người trên bờ đập.

Về Ea Tân tối hôm trước, hôm sau tôi đã được đi dự một đám cưới của người bản địa. Tiệc cưới bày ra làm tôi choáng ngợp bởi nó sang trọng hơn trí tưởng tượng về một đám cưới quê rất nhiều. Tiệc cưới hơi lãng phí, nhưng nó cũng nói lên được phần nào đời sống của người dân: có sung túc, mới lo nổi được một đám cưới như thế. Theo con số thống kê chưa đầy đủ, thu nhập bình quân năm 2005 ở Ea Tân là 9,91 triệu đồng/người và tổng giá trị sản xuất toàn xã năm đó là 85,8 tỷ đồng trong đó nông nghiệp chiếm tỷ trọng 96%. Mà nông nghiệp ở đây thì đại đa số là trồng cà- phê. Một số hộ có trồng cao- su, hồ tiêu nhưng diện tích quá nhỏ nhoi so với sự khuynh loát của giống cây công nghiệp này.

“Tháng ba, mùa con ong lấy mật, anh vào rừng phát rẫy làm nương”...Bây giờ việc phá rừng làm nương ở Tây Nguyên hầu như không còn nữa, thay vào đó là việc thâm canh cây công nghiệp trên những khoảnh đất sẵn có. Điều làm tôi ngạc nhiên là ở xã vùng sâu, đất đai bạt ngàn như  Ea Tân mà giá đất lại chẳng rẻ chút nào, thậm chí còn cao hơn giá chuyển nhượng đất ở một số vùng của các tỉnh đồng bằng. Một héc- ta đất rẫy được chuyển nhượng với giá hơn trăm triệu đồng. Đất định cư được sang chuyển quyền sử dụng với giá 35 triệu đồng một mét mặt đường. Giá như thế, mà có tiền chưa chắc đã mua được. Nhiều gia đình vẫn phải làm nhà ở trong rẫy. Nhưng ở rẫy thì vẫn có điện thắp sáng, có ti- vi để xem, chỉ có điều là cuộc sống hơi đơn lẻ, từ nhà này sang nhà kia đến vài trăm mét. Tối tối, đám thanh niên lại rủ nhau vượt mấy quả đồi ra chợ hay ra thị trấn để uống với nhau ly cà phê, hát với nhau vài bài trong các quán karaoke, tấp nập thế mà không có vụ ấu đả nào xảy ra. An ninh trật tự ở đây quá tốt, máy bơm nước, cà phê nhân đóng bao để ngoài rẫy hàng tháng vẫn không hề suy suyển. Trong thôn, nhà với nhà vẫn ngăn cách bởi lưa thưa mấy bụi găng, mấy khóm chuối mà chẳng thấy xích mích chuyện lấn cõi, lấn bờ...

II- Người quê nhãn trên đất của cây cà phê

ở Ea Tân, tôi hoàn toàn không phải lo lắng gì đến chuyện ăn, ngủ bởi đã được sự đón tiếp nồng hậu của gia đình anh Đặng Duy Hiển. Anh Hiển mới đến lập nghiệp ở Ea Tân được 10 năm nhưng đã tạo dựng cho mình một cơ ngơi đáng nể. Thoạt kỳ thuỷ, tôi cứ tưởng anh Hiển chỉ làm công tác xã hội và kinh doanh dịch vụ, nhưng sau mới biết mình lầm, gia đình anh là một trong những người có diện tích canh tác nhiều ở khu vực chợ Bãi Bằng này. Với 3ha rẫy, hàng năm anh thu được khoảng 15 tấn cà phê nhân.

Hầu hết cư dân Ea Tân là người các tỉnh phía Bắc vào làm ăn sinh sống trong phong trào “đi kinh tế mới” những năm 80 của thế kỷ 20. Người Kinh ở Bắc Giang, Hải Dương, người Tày, Nùng, Thái, Mường ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng... Riêng hơn 40 hộ gia đình gốc Hưng Yên thì lại đến Ea Tân theo kiểu di dân tự do, “đất lành chim đậu”. Gia đình họ Đặng (xã Quảng Lãng- Ân Thi) cũng thế.

Cụ Đặng Văn Thính năm nay đã ngoài 70 tuổi nhưng còn tráng kiện và minh mẫn lắm. Nước da bánh mật và nhăn nheo vì thời gian và nắng gió cao nguyên, giọng nói sang sảng, trông cụ không ai nghĩ cụ chính là người “mở đất” cho dòng họ Đặng- Quảng Lãng. “Trước, tôi vào Gia Lai, mua đất ven sông Ba trồng đậu, sau chuyển vào Ea Tóh, mãi đến năm chín tư mới mua đất trong này”. Cùng với anh Đoàn, con trai út, rời quê nhà đi lập nghiệp ở vùng đất mới, cụ đã từng trải qua nhiều nghề, từ mở quán bán hàng ăn đến làm giò chả rồi đọng lại là trồng cà phê. Giờ thì cụ đã cho con cháu tất cả nương rẫy mình gây dựng được, an hưởng tuổi già trong căn nhà nằm sâu trong ngõ chợ. Vào thăm cụ, các gia đình khác trong họ cũng lần lượt đến định cư ở đây. Cho đến năm 2006, dòng họ đã phát triển cơ học lên tới 30 hộ với hơn 100 nhân khẩu với một số lớn quần tụ quanh chợ Bãi Bằng, một số gia đình mới đến sống rải rác trong rẫy và các thôn của Ea Tân...

Bên cạnh những người họ Đặng ở Quảng Lãng, còn có nhiều người các vùng quê khác của Hưng Yên vào đây sinh sống. Đó là 6 gia đình ở Đồng Tiến (Khoái Châu), là những người Tiên Lữ, Thị xã Hưng Yên...Có nhiều người tuy mới vào lập nghiệp mà bằng vào cách làm ăn, bằng vào sự nhanh nhạy đã trở thành đại gia về sự sung túc. Anh chị Trung- Tình ngoài mấy héc ta cà phê ngoài rẫy, còn là chủ của hai cửa hàng thu mua cà phê nhân ở chợ Bãi Bằng, ông Phố người gốc Tiến Lữ, hiện đang ở tại thôn Đoàn Kết có tới 20ha rẫy trồng cà phê. “Kinh dị” hơn, là ông Chiến (quê ở Chợ Gạo- TX Hưng Yên) có tới 30ha đất. Người ta nói, vào mùa thu hoạch, ông Chiến phải về tận quê Hưng Yên, nhờ hàng trăm người trong họ vào làm giúp.

Không chỉ có làm giàu, người Hưng Yên còn đảm nhiệm nhiều công việc xã hội ở quê mới. Anh Đặng Duy Hiển là chủ tịch hội Cựu chiến binh xã từ khi xã mới được thành lập thì cuối năm đó, đơn vị của anh đón nhận 2 bằng khen của Hội Cựu chiến binh huyện Krông Năng, một cho tập thể và một cho cá nhân Chủ tịch Hội. Anh Đặng Văn Đồng là cán bộ xã đoàn, được rút về Huyện uỷ từ năm 2005, anh Đặng Văn Viên hiện là Đảng uỷ viên của Đảng bộ xã, anh Phạm Văn Tiếp là phát thanh viên của đài truyền thanh xã đồng thời tham gia công tác bảo vệ, mấy năm trước, đã có lần cùng một đồng chí Trinh- công an viên, truy đuổi và bắt sống một tên cướp giữa đêm khuya.

*

Ở Ea Tân có hai ngày, sống với những người đồng hương coi tôi như ruột thịt, được hưởng đủ mọi tiện nghi trong sinh hoạt, không hôm nào tôi không điện về gia đình, ấy vậy mà vẫn nôn nao nỗi nhớ quê hương. Thế mới thấy được sự cô đơn những người Hưng Yên đi lập ấp, ngày mới vào đây, khi không điện, không thông tin, cách xa trung tâm hàng mấy chục cây số... Điện lưới quốc gia mới “phủ sóng” khắp các thôn ở Ea Tân từ năm 1998, điện thoại di động lúc có sóng lúc không, điện thoại bàn lại chưa kéo tới xã, chỉ có trạm phát sóng ngắn từ Ea Tóh. Theo phương hướng Đại hội Đảng bộ đến năm 2010, Ea Tân sẽ có đập ngăn nước, có hồ và hệ thống thuỷ lợi đủ cung cấp nước tưới cho cây chủ lực là cà phê, sẽ có hệ thống trường phổ thông cơ sở khang trang và có hệ thống trạm y tế và màng lưới y tế cơ sở vững vàng...Tôi tin rằng như thế, bởi nhìn vào cuộc sống hôm nay của người dân nơi đây, nhìn vào tiềm năng của vùng đất này.

Rời Ea Tân trong buổi sớm tháng ba, khi mặt trời hắt lên những tia nắng chói chang ngay từ lúc mới ló lên trên rẫy cà phê như mọi ngày, tôi chợt cất lên rất cao hứng “em cao nguyên nhỏ dại, em cao nguyên huyền thoại...vừa thật gần vừa xa xôi...” khiến cho cậu lái xe máy đang chú tâm vào con dốc cũng phải ngoảnh lại nhìn ngạc nhiên. Bụi đất đỏ vẫn bốc lên ngùn ngụt sau bánh xe, hàng trăm héc- ta cà phê vẫn đang khô khát. Nhưng phía trước, lũ bướm vàng bay rợp trời. Người già ở Ea Tân nói, khi bướm vàng bay ra, ngày mai, trời sẽ mưa.

Phạm Minh Hoàng
Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN