thethaovanhoa.vn

Tìm chuẩn mới về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

13/02/2009 11:05 GMT+7

TS. Nguyễn Quang A nhận định, vin vào “trách nhiệm xã hội” chung chung đang là cách mà không ít doanh nghiệp dùng làm cớ ngụy biện cho sự kém hiệu quả của mình.

(TT&VH) - Hôm qua 12/2, Hội thảo quốc tế mang tên Trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường do Viện Triết học tổ chức đã khai mạc tại Hải Phòng, với sự tham gia của hàng trăm học giả trong và ngoài nước.

Một trong những nội dung chính của hội thảo là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đặc biệt là trách nhiệm với môi trường, một vấn đề đang là mối quan tấm lớn của toàn xã hội.

Bài 1: Cần gấp rút xây dựng đạo đức sinh thái

Vedan cần học lại bài học về “đạo đức sinh thái”


Trách nhiệm xã hội phụ thuộc vào pháp lý

Một hiện tượng khá phổ biến ở Việt Nam là các doanh nghiệp tích cực tham gia vào các hoạt động từ thiện như giúp nạn nhân của bão lụt, thiên tai hay tai nạn, đóng góp vào Quỹ xoá đói giảm nghèo... Có không ít ý kiến khác nhau về động cơ của sự đóng góp này. Bên cạnh ý kiến hoan nghênh, cũng có không ít ý kiến cho rằng một số doanh nghiệp có động cơ “đánh bóng hình ảnh” và có mục đích vụ lợi và không thể đồng nghĩa sự đóng góp với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Có những ý kiến trái chiều trên là do thiếu quy định pháp luật chặt chẽ về việc khấu trừ số tiền đóng góp vào chi phí trước thuế.

TS. Nguyễn Quang A nhận định, vin vào “trách nhiệm xã hội” chung chung đang là cách mà không ít doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn thường dùng làm cớ ngụy biện cho sự kém hiệu quả của mình. Theo ông, doanh nghiệp phải đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu, nếu lẫn lộn mục tiêu kinh doanh với “trách nhiệm xã hội” chung chung thì có thể nhanh chóng bị loại khỏi thương trường và không còn cơ hội và nguồn lực để gánh vác “trách nhiệm xã hội”. Doanh nghiệp sử dụng hiệu quả các tài nguyên để tạo ra lợi nhuận, tuân thủ pháp luật, tạo công ăn việc làm và tạo điều kiện cho người lao động phát huy tài năng của mình thực ra là đã thực hiện “trách nhiệm xã hội” lớn nhất, thực chất nhất.

Theo TS. Nguyễn Quang A, nếu doanh nghiệp có thu được nhiều lãi do “lách luật” thì đã có đủ các sắc thuế để điều tiết khoản lãi đó. Người “lách được luật” là người phát hiện ra các lỗ hổng của luật và sự yếu kém của cơ quan nhà nước, và việc này giúp cho các nhà làm luật biết để sửa. “Lách luật” trong trường hợp này đáng được tuyên dương và là việc làm hợp pháp. Giá cả hàng hóa cũng không thuộc phạm trù đạo đức, nó chủ yếu do cung cầu quyết định. Người ta hay trách tư thương, doanh nghiệp “ép giá” và coi việc đó là phạm “đạo đức kinh doanh”. Chính sự lầm lẫn về khái niệm mà hàng ngàn năm qua chúng ta coi khinh “con buôn”, “bọn phe phảy”, đổ cho họ mọi sự xấu xa và coi hoạt động của họ là trái đạo đức. TS Nguyễn Quang A không đồng tình với những quan niệm như vậy. Theo ông, nói đến đạo đức kinh doanh là nói đến cái không phải do luật định, phải phân biệt rạch ròi như vậy. Như thế trách nhiệm xã hội phụ thuộc rất nhiều vào môi trường pháp lý chứ không chỉ phụ thuộc vào hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy, khi luật không cấm thì người dân và doanh nghiệp có quyền làm và họ không thể bị trách cứ về pháp lý. Tuân thủ pháp luật, hoạt động kinh doanh có hiệu quả, tạo ra nhiều công ăn việc làm, bảo vệ môi trường… là doanh nghiệp hoàn thành trách nhiệm xã hội của mình.

TS. Lê Đăng Doanh (Viện Nghiên Cứu Phát triển- IDS) cho rằng, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không chỉ là làm giàu phù hợp với pháp luật mà còn phải bảo đảm và tôn trọng lợi ích chính đáng và hợp pháp của khách hàng và đối tác. Cách làm giàu “chụp giật” là hoàn toàn xa lạ với trách nhiệm xã hội. Ông Lê Đăng Doanh cũng cho rằng, trong trách nhiệm của mình doanh nghiệp phải coi người lao động là tài sản lớn nhất, chăm lo cuộc sống vật chất và tinh thần của người lao động, bảo đảm người lao động  không chỉ tái sản xuất sức lao động mà còn được nâng cao trình độ chuyên môn, chăm lo sức khoẻ cho người lao động.

Cần xây dựng đạo đức sinh thái

Theo PGS.TS. Phạm Thị Ngọc Trầm, xây dựng đạo đức sinh thái phải trở thành một trách nhiệm xã hội của con người đối với tự nhiên. Trong quá trình “nhào nặn” các tạo phẩm thiên nhiên thành những tạo phẩm, con người đã phạm phải những sai lầm nghiêm trọng đối với môi trường thiên nhiên, đã tàn phá chính những nguồn sống và “thân thể” của mình. Hơn lúc nào hết, đạo đức sinh thái đang trở thành một yêu cầu mới trong xã hội hiện nay. Bà Trầm cho rằng, khoảng thời gian hơn 20 năm Việt Nam bước vào nền kinh tế thị trường đã đủ để chúng ta có thể nhận ra các những tác động tích cực, lẫn tiêu cực của nó.

Không thể phủ nhận rằng, trước khi có nền kinh tế thị trường, môi trường thiên nhiên nước ta đã bị tàn phá. Song hơn 20 năm qua, môi trường tự nhiên bị tàn phá nhanh hơn, với qui mô lớn hơn. Bởi lẽ, trong kinh tế thị trường, con người được kích thích bởi lợi ích kinh tế trước mắt đã lao vào các hoạt động kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao nhất, nhanh nhất. Nhiều hậu hoạ sinh thái đã xảy ra như nhiều dòng sông, hồ ao đã bị ô nhiễm nặng nề bởi nước thải độc hại của các nhà máy, xí nghiệp, khu liên hợp chế xuất, bởi nước thải bẩn của các cơ sở chăn nuôi, bệnh viện… Điển hình tai tiếng nhất là vụ nước thải của nhà máy bột ngọt Vedan đã làm chết dòng sông Thị Vải, ô nhiễm từ nhà máy đóng tài Vinashin.v.v . Việc khai thác và sử dụng bừa bãi các nguồn tài nguyên thiên nhiên như rừng, khoáng sản, kim loại quí hiếm... đã dẫn đến sự cạn kiệt các nguồn lợi, đặc biệt là tài nguyên rừng. Sự mất vệ sinh an toàn lương thực thực phẩm ngày càng phổ biến và nguy hiểm. Việt Nam là một trong những nước phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất của sự biến đổi khí hậu toàn cầu, mưa lũ, ngập lụt xảy ra thường xuyên trên khắp mọi miền đất nước, năm sau tổn thất lại lớn hơn năm trước.

Toàn cảnh buổi hội thảo


Hiện ở Việt Nam chưa có khung pháp luật và hướng dẫn về việc các doanh nghiệp phải có báo cáo về hạch toán  xã hội, kiểm toán xã hội và báo cáo xã hội để cộng đồng biết và giám sát. Việt Nam đã ban hành Luật Cạnh tranh nhưng chưa có Luật Kiểm soát độc quyền và việc thực hiện Luật Cạnh tranh còn có nhiều hạn chế. Điều này gây khó khăn trong việc giám sát trách nhiệm xã hội của cộng đồng với doanh nghiệp.

Những giá trị của đạo đức nói chung, của đạo đức sinh thái nói riêng cần phải có những thay đổi về căn bản. Hiện tại, Việt Nam chỉ biết sống dựa vào thiên nhiên, khai thác thiên nhiên, do vậy, vẫn cứ mãi luẩn quẩn trong các vòng phát triển của nền văn minh nông nghiệp cổ điển, mặc dù từ những năm 60 của thế kỷ XX chúng ta đã tiến hành quá trình Công nghiệp hoá đất nước.

Hơn 20 năm qua cùng với sự chấp nhận nền kinh tế thị trường, đạo đức sinh thái nói riêng đã đột ngột bị thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho môi trường. Sự kích thích mạnh mẽ của lợi ích tối đa trước mắt, kết hợp với những phương tiện kỹ thuật hiện đại đã làm cho con người lao vào khai thác và tận dụng tự nhiên bất chấp mọi hậu quả có thể xảy ra và trên thực tế đã xảy ra. Điều đó có nghĩa là, những giá trị của đạo đức sinh thái truyền thống đang được đặt trước những thách thức to lớn và vô cùng mới mẻ trong những điều kiện phát triển mới của đất nước và thời đại.

Tất cả những điều đó đang đòi hỏi phải xây dựng một đạo đức sinh thái mới phù hợp với điều kiện phát triển mới của đất nước và thế giới. Việc xây dựng đạo đức sinh thái ngày nay trở nên bức xúc hơn bao giờ hết, xuất phát từ trách nhiệm của con người đối với tự nhiên, nhưng suy đến cùng là trách nhiệm đối với sự sống còn của chính mình và các thế hệ con cháu mai sau. Đến lúc các doanh nghiệp Việt Nam phải thực sự “thấm nhuần” vấn đề này trước khi quá muộn.

(Còn nữa)

Thế Vinh (ghi)
Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN