Nhà phê bình Hoàng Anh tiếp tục trao đổi với nhà phê bình Phan Cẩm Thượng về các hoạt động mỹ thuật Việt Nam ở nước ngoài trong năm qua.
* Không bàn đến cuộc triển lãm “Họa sỹ Phan Cẩm Thượng và các học trò” tại Mỹ, theo ông, năm 2008 đã có những sự kiện nghệ thuật quốc tế nổi bật nào nào liên quan đến Việt Nam?
- Có rất nhiều hoạt động cả về triển lãm lẫn hội thảo và trao đổi cũng như rất nhiều workshop. Không chỉ trong khu vực Việt Nam mà rất nhiều các nước khác do các nghệ sĩ Việt Nam thực hiện, và có những tầm văn hóa nhất định nhưng hơi đáng tiếc là thông tin trong nước lại ít đề cập đến. Trong đó có thể nói đến cuộc hội thảo Post - Đổi mới do bảo tàng nghệ thuật Singapore tổ chức. Cuộc triển lãm ChangingIdentity do một số tổ chức Triển lãm lưu động Mỹ tổ chức và Cuộc triển lãm nghệ thuật Quốc tế châu Á lần thứ 23 được tổ chức tại Quảng Châu - Trung Quốc .
* Những cuộc hội thảo và triển lãm đó có những đóng góp cụ thể và thiết thực gì cho mỹ thuật VN không?
- Trước tiên, ta nói đến hội thảo Post - Đổi mới (Sau Đổi mới). Đây là cuộc hội thảo diễn ra vào tháng 5/ 2008. Bảo tàng Mỹ thuật Singapore đã triển lãm một cuộc trưng bày lớn về hội họa và sắp đặt của nhiều thế hệ họa sĩ Việt Nam do họ tự lựa chọn. Và có thể nói, đây là những sự lựa chọn rất có chất lượng. Mỗi tác phẩm đều nói lên những phong cách sáng tác, thái độ xã hội và hình ảnh VN thông qua mỹ thuật. Riêng cuộc hội thảo được tổ chức trong 3 ngày và bảo tàng đã mời toàn các chuyên gia chuyên nghiệp về nghệ thuật Việt Nam đọc thuyết trình. Ví dụ nhóm của Nora Taylor, một nhà nghiên cứu người Pháp trình bày về mỹ thuật Đông Dương. Một nhà nghiên cứu người Nhật trình bày về quan hệ mỹ thuật giữa Việt Nam và Nhật Bản những năm 1940-1943, và bản thân chị Nora Taylor trình bày về mỹ thuật VN sau Đổi mới. Tất cả những tài liệu của họ đều rất xác thực.

* Còn Triển lãm Changing Identify?
- Triển lãm này có mời 10 nữ nghệ sĩ Việt Nam trong đó có 2 người làm sắp đặt, 2 nghệ sĩ nhiếp ảnh (Việt kiều) và 6 họa sĩ. Triển lãm này được bày trong 2 năm và qua 10 thành phố của Mỹ và đến tháng 4/2009 mới kết thúc. Mỗi một thành phố sẽ có một nghệ sĩ đến dự và nói chuyện. Người Mỹ muốn thông qua cái nhìn của người phụ nữ, vì rằng phụ nữ Việt Nam là những người nhạy cảm vì vừa phải lo toan gia đình, vừa phải làm việc xã hội, nên họ có cái nhìn sát thực về cuộc sống thường ngày. Nếu bản sắc văn hóa của chúng ta có gì thay đổi có thể thấy rõ hơn, qua cái nhìn của phụ nữ.
* Năm 2008 cũng là năm xuất ngoại của khá nhiều họa sĩ Việt Nam, trong đó có đoàn 8 nghệ sĩ sang Trung Quốc dự Triển lãm nghệ thuật Quốc tế Châu Á 2008…
- Những người tổ chức triển lãm này đã mời thực tiếp thông quan họa sĩ Nguyễn Xuân Tiệp. Đây là một triển lãm thường niên, phi thương mại và hoàn toàn tự nguyện. Tức là nước đăng cái chỉ lo phòng triển lãm, các hoạt động thăm quan, hội thảo, phương tiện đi lại trong thành phố và ăn tiệc. Còn các nghệ sĩ hoàn toàn tự túc vé đi và khách sạn. Đây có thể nói là một triển lãm rất quan trọng đối với hoàn cảnh nghệ thuật Châu Á, đối trọng với nghệ thuật phương Tây. Một triển lãm như vậy, mà trong nước ta hoàn toàn thờ ơ. Và cho đến này, Việt Nam chưa đăng cai lần nào.
Ba triển lãm trên là ba hoạt động lớn của mỹ thuật Việt Nam với quốc tế nhưng đáng tiếc ngay chính rất nhiều người chúng ta lại rất ít quan tâm và gần như không biết về nó.
* Theo ông, xu hướng nghệ thuật năm 2009 của chúng ta sẽ là...
- Như trên đã nói về sự hình thành của một lớp nghệ sĩ trẻ và mới, họ là những người hoàn toàn có thể tin tưởng được và chắc chắn tạo ra tương lai và vị thế của nghệ thuật Việt Nam. Tuy nhiên các cơ sở xã hội hiện tại, các quy chế nghệ thuật đã không còn thích ứng với hoạt động nghệ thuật thời hội nhập. Việc đem một triển lãm nước ngoài vào Việt Nam vô cùng khó khăn, ví dụ triển lãm sưu tập của hãng Petronas ở Malaysia gần đây, có câu chuyện khá hài ước. Một tác phẩm sắp đặt của họ có vài chục tấm gỗ, nhưng phía ta lại coi mỗi tấm là một tác phẩm, nên việc nhập khẩu vào rất lằng nhằng về thủ tục.
Tôi nghĩ không phải lo về tương lai của nghệ thuật Việt Nam về cả nội dung lẫn hình thức, điều lo ngại nhất là quy chế quản lý chưa thúc đẩy được nó phát triển. Cải biến được vấn đề đó chúng ta thực sự sẽ có một nền nghệ thuật mạnh đóng góp một cách trong sáng cho nền văn hóa Việt Nam hiện đại, và một bước nữa đặt chân vào các bảo tàng lớn trên thế giới và ở “tốp trên” trong thị trường nghệ thuật. Đây là câu chuyện cần nói dài dòng.