Kể từ khi lần đầu xuất hiện tới nay, THTT đã có hơn 60 năm tồn tại và phát triển. Giới phân tích đánh giá đây sẽ là một trong những xu hướng giải trí chủ đạo trong tương lai.
Đa dạng

THTT manh nha ra đời từ những năm 1940, bắt đầu bằng show phát thanh mang tên Candid Microphone (Micro thu lén) là tiền đề cho show Candid Camera (Máy quay lén) của đạo diễn Mỹ Allen Funt. Show này ghi lại và phát sóng phản ứng của người chơi truyền hình khi họ dính phải những trò chơi khăm. Chương trình này đã được giới chuyên gia gọi là “ông nội” của thể thoại THTT.
Bước sang những năm 1950, chương trình truyền thanh Nightwatch (Gác đêm) ghi lại hoạt động thường nhật của các sĩ quan cảnh sát thành phố Culver, California, đã mở thêm hướng đi mới cho truyền hình thực tế. Loạt chương trình THTT You Asked For It (Phát theo yêu cầu), trong đó người xem truyền hình bỏ phiếu chọn những nội dung nhất định cũng là một phần của THTT hiện đại.
Các show THTT với hơi hướng hiện đại chỉ bắt đầu bằng An American Family (Một gia đình Mỹ) dài 12 kỳ của đài truyền hình PBS làm vào năm 1973. Trong show này người ta thấy cảnh 12 gia đình thực tế đang làm các thủ tục ly dị. Song THTT theo đúng như những gì đang diễn ra hiện nay chỉ bắt đầu xuất hiện trong những năm 1980.

Và bùng nổ
Bước sang những năm 2000, truyền hình thực tế bùng nổ với hàng loạt show lớn ra đời như Survivor (Người sống sót), American Idol (Thần tượng Mỹ), Top Model (Siêu mẫu), Dancing With The Stars (Khiêu vũ với sao), The Apprentice (Người học việc), Fear Factor (Yếu tố sợ hãi) và Big Brother (Đại ca)...
THTT hiện đại rất đa dạng về nội dung. Đó có thể là dạng show tài liệu (Documentary), tìm nghề (Job search), vượt lên chính mình (Self-improvement), trò chuyện (Talk show), quay lén (Hidden camera), loại bỏ (Elimination), cạnh tranh thể thao (Sports), tân trang (Renovation), thử nghiệm xã hội (Social expreriment), hẹn hò (Dating), tin đồn (Hoaxes).
Trong số đó, phải kể tới những show lớn với quy mô lan tỏa ra nhiều quốc gia như Big Brother. Trong show này, cứ mỗi kỳ, một nhóm người lại được đưa ra ngôi nhà mang tên Big Brother House, nằm biệt lập với thế giới. Mỗi kỳ kéo dài khoảng ba tháng và có ít hơn 16 người tham gia. Mỗi người sẽ được nhà sản xuất chương trình giao các nhiệm vụ khác nhau. Các nhiệm vụ này thử thách khả năng làm việc nhóm và tinh thần cộng đồng của các ứng viên... Sau một khoảng thời gian, toàn bộ các thành viên sẽ bí mật chọn ra một số người mà họ muốn tống cổ đi. Người nào nhận được nhiều phiếu loại nhất sẽ được công bố tên và rời khỏi cuộc chơi. Khán giả truyền hình, vốn theo dõi chặt show từ đầu tới cuối, cũng có quyền loại người họ không ưa.
Bắt đầu ra mắt từ năm 1999 ở Hà Lan, Big Brother đầu tiên được chiếu trên kênh truyền hình Veronica TV. Hiện nay show truyền hình này đã xuất hiện ở 70 quốc gia khác nhau. Thời kỳ đầu, ngôi nhà Big Brother chỉ cung cấp cho các ứng viên những tiện nghi hết sức cơ bản như nước máy, đồ đạc và một lượng đồ ăn giới hạn. Hiện nay các ngôi nhà Big Brother đều có dáng dấp và nội thất hiện đại cùng với những tiện nghi cao cấp như tắm nước nóng, xông hơi, phòng VIP và nhiều thứ khác.
Tương tự như Big Brother, Survivor là show truyền hình được sản xuất tại nhiều quốc gia trên thế giới. Trong show này, các ứng viên cũng được đưa ra một hoang đảo và cạnh tranh với nhau để lấy tiền mặt hoặc các giải thưởng. Người tham gia show này cũng bị loại dần theo hình thức bỏ phiếu cho tới khi chỉ còn một người duy nhất chiến thắng. Survivor được tạo ra vào năm 1992 bởi Charlie Parsons và sản phẩm đầu tiên ra đời từ ý tưởng này là show truyền hình Thụy Điển Expedition: Robinson.
Khác với cách làm của hai show trên, American Idol là một cuộc thi tài trong lĩnh vực âm nhạc. Mục tiêu của chương trình là phát hiện ca sĩ hát hay nhất trong toàn nước Mỹ thông qua hàng loạt các cuộc tranh tài quy mô quốc gia. Mỗi thí sinh sẽ được công chúng xem truyền hình trực tiếp bầu chọn. Ngoài ra American Idol cũng có ban giám khảo gồm 4 người. Các giám khảo gồm nhà sản xuất đĩa hát và quản lý âm nhạc Randy Jackson; ca sĩ nhạc pop kiêm biên đạo múa Paula Abdul; ông bầu âm nhạc Simon Cowell và ca sĩ, nhà sáng tác kiêm nhà sản xuất đĩa hát Kara DioGuardi. Họ sẽ đưa ra các nhận xét dựa trên thành tích biểu diễn của thí sinh.
Được phát sóng lần đầu tiên trên kênh truyền hình Fox từ ngày 11/6/2002, American Idol đã trở thành một trong những show truyền hình được ưa chuộng nhất tại Mỹ. American Idol hiện được phát sóng tới hơn 100 quốc gia ngoài Mỹ. Tuy nhiên các chương trình này không phải thu hình trực tiếp. Sớm nhất là Australia sẽ phát sóng khoảng 5 tiếng sau khi phát sóng ở Mỹ và muộn nhất là tại Brazil, sau 8 ngày.
Một xu thế thời đại
Từ những show phát thanh thực tế đầu tiên, tới nay, THTT đang là một xu hướng phổ biến và được đặc biệt ưa chuộng. Hiện nay, hai series ăn khách nhất của truyền hình Mỹ là Survivor và Americal Idol đang dẫn đầu về tỉ lệ yêu thích. Survivor dẫn đầu các đánh giá trong năm 2001-2002 trong khi Americal Idol dẫn đầu trong ba năm liên tiếp (2004-05, 2005-06 và 2006-07).
Ngành truyền hình cũng đã tạo lập những kênh riêng chuyên chiếu các chương trình truyền hình thực tế như Zone Reality (Anh) và Fox Reality (Mỹ). Người ta cũng bắt đầu quen với các chương trình thực tế của các kênh MTV hay Bravo. Mike Darnell, Giám đốc các chương trình truyền hình thực tế của Hãng Truyền hình Fox, Mỹ cho biết: Các hệ thống truyền hình như NBC, CBS, ABC và Fox có thể dự kiến làm từ 3 đến 4 chương trình truyền hình thực tế mỗi mùa.