Trong mắt bạn bè, đồng nghiệp ông là một nhà văn, một dịch giả, một con người thơ mộng và hào hiệp. Con người ấy lúc nào cũng như đang đi dưới hàng thông xưa.
(TT&VH) - Nhà văn, dịch giả Lê Bầu đang điều trị ung thư máu tại BV Hữu nghị Việt Xô. Con người thơ mộng luôn luôn đi dưới tiếng thông reo ấy rồi cũng phải giáp mặt với bệnh tật đắng cay. Bè bạn giao cho tôi công việc khó khăn là nói thẳng sự thật với Lê Bầu. Tôi đã làm nhiệm vụ. Tôi đã lấy đi mất cái ảo tưởng quá ư hồn nhiên của Lê Bầu cho rằng mình vẫn còn biết bao nhiêu Giả Bình Ao chưa dịch xong, thì bệnh tật nào rồi cũng qua khỏi thôi.
![]() Ảnh: Nguyễn Đình Toán |
Sẽ dễ hiểu cái tác động địa lý đó tới tập truyện ngắn đầu tay của Lê Bầu. Sau hội nghị những người viết văn trẻ đầu tiên năm 1959, nơi Lê Bầu gặp gỡ các bạn văn đầu tiên của đời mình, rồi sau đó hầu như mỗi người đều ra một tập truyện ngắn thể hiện cái cốt cách riêng, thì Lê Bầu cũng đóng góp bằng một tập truyện ngắn có tên chung Thông reo. Con người ấy lúc nào cũng như đang đi dưới hàng thông xưa, ngay cả khi viết báo với những đề tài sát sàn sạt với đời thường, được đẩy lên khi viết truyện ngắn là thể loại rất gần với thơ, và khi đời đã nhướm màu mệt mỏi, Lê Bầu vẫn còn bám víu vào được với đời nhờ những trang văn dịch không kém phần thơ mộng của Giả Bình Ao.
2. Cái thơ mộng ở Lê Bầu như thể từ trong mạch máu tuôn ra. Lê Bầu thơ mộng ngay trong đời sống hàng ngày, ngay với con cái trong nhà. Lê Bầu tự đặt ra chuyện để kể cho con được vui. Như chuyện vì sao ở lưng lại có rôm. Hồi đó, Lê Bầu đã có thêm bé Hà, con bé có bím tóc vắt vẻo ngự trị trước bàn làm việc. Sau mỗi lần từ Hà Nội về Bắc Giang thăm con, gặp chúng tôi, Lê Bầu thường có chuyện kể về con, và tôi rất có ấn tượng với câu chuyện rôm do Lê Bầu bịa ra kể cho cháu Hà nghe. Tôi hoàn toàn hình dung được trong tưởng tượng một nhà văn vừa xoa lưng con gái vừa đặt ra câu chuyện, mà cái kết thật bất ngờ: "Sau khi chạy nhẩy một hồi mà muốn đuổi rôm đi thì phải vào bếp vục một bát cơm nguội ăn với muối vừng, ăn xong thế nào rôm cũng bỏ đi sạch".
Nhà văn, dịch giả Lê Bầu, sinh năm 1930 tại Khoái Châu - Hưng Yên. Giải thưởng của Hội nhà văn 2004 với tác phẩm dịch Quỷ thành (theo Cinnet)
Lê Bầu yêu con mình, yêu thương cả con cái của các bạn. Trong những năm chiến tranh phá hoại, bè bạn khi có việc gấp gáp thường gửi con cho Lê Bầu, và đó là địa chỉ yên tâm nhất. Cho đến bây giờ anh em bạn vẫn còn nhắc “chuyện lấy vợ” của cậu Hải Âu con trai Dương Tường. Bố mẹ hỏi “lớn lên lấy vợ con thích lấy ai?”, Hải Âu không ngần ngừ đáp luôn, “con lấy chú Bầu”. Bạn bè có thể nhờ Lê Bầu đạp xe đi hàng chục cây số đưa giúp con cái tới nơi sơ tán hoặc đón giúp con cái từ nơi sơ tán về. Những đứa trẻ ngày ấy nay đã thành những người năm mươi sáu mươi, và tất cả bọn họ đều vẫn chú cháu với Lê Bầu như với người thân trong gia đình.
Có thời gian Lê Bầu đi lao động ở nhà máy cao su Sao Vàng. Đi thì đi vậy, hồn nhiên thâm nhập thực tế, học nghề làm săm lốp, và viết báo, viết bút ký về những công nhân thủ đô, trong những bài viết vẫn không quên và không thiếu tiếng đàn thánh thót ngay trong những năm đêm đêm bầu trời thủ đô hằn lên đạn lửa và tiếng bom gần xen với tiếng súng xa…
Tôi đồ chừng rằng chính vào những tháng ngày vất vả đó mà Lê Bầu đã nghĩ đến việc viết hồi ký. Một con người thơ mộng như thế chắc chắn phải nung nấu một cuốn hồi ký của đời mình, vì những truyện ngắn mang từng mảnh hồi ức không còn đủ chỗ cho những nỗi niềm đầy ắp quá khổ. Nhưng tật nể nang đã lôi Lê Bầu đi sang dịch thuật. Lê Bầu đã dịch nhiều, từ Ô-sin qua Lưu Gù sang Đặng Tiểu Bình, tất cả đều theo yêu cầu của bè bạn làm tại các nhà xuất bản. Nhưng có lẽ phải tìm được Giả Bình Ao và chỉ khi bắt gặp Giả Bình Ao thì mới có nơi chốn đắc địa cho một nhà văn quên đi việc làm ra tác phẩm của riêng mình để chỉ còn tập trung vào việc sáng tác lại một hoặc những tác phẩm tưởng đâu như chính mình cũng vừa làm ra như thế ấy. Quên sao được lần đầu dịch xong Thị trấn Phù Dung, Lê Bầu gọi bạn bè đến cho sách, và quên mất mình đang ngồi trong căn buồng vài mét vuông ở phố Phùng Hưng, vẫn say sưa khoe cái chữ “con ngòi Hĩm” mình tìm ra để diễn đạt cho hết ý tứ nhà văn Trung Hoa đương thời.
Kể từ đó, hơn chục năm, Lê Bầu đã dịch liên tục Giả Bình Ao, đến độ ở Hà Nội, khi giới thiệu Trần Đình Hiến với ai, người ta nói “đây là Mạc Ngôn”, còn Lê Bầu thì thành “đây là Giả Bình Ao”, chưa có trường hợp thứ ba. Điều đó cũng hàm nghĩa Mạc Ngôn được Trần Đình Hiến diễn đạt thấu đáo sự sắc sảo thâm trầm, còn Lê Bầu đã khiến Giả Bình Ao hiện lên với toàn bộ sự thơ mộng đến đau lòng của một nông thôn đáng yêu ngay cả khi nổi loạn tàn bạo. Chỉ một chữ “Tần xoang” mà Lê Bầu trằn trọc bao nhiêu ngày: nên dịch thành “điệu Tần” hay cứ để nguyên “Tần xoang” cho có âm hưởng của thơ?
3. Con người thơ mộng luôn luôn đi dưới tiếng thông reo ấy rồi cũng có lúc giáp mặt với thực tại bệnh tật đắng cay. Bè bạn giao cho tôi công việc nói thẳng sự thật với Lê Bầu. Tôi đã làm nhiệm vụ. Tôi đã lấy đi mất cái ảo tưởng quá ư hồn nhiên của Lê Bầu cho rằng mình vẫn còn biết bao nhiêu Giả Bình Ao chưa dịch xong, thì bệnh tật nào rồi cũng qua khỏi thôi. Cháu Hà gọi điện báo cáo: “Bố cháu khóc!”.