Năm 2008, thị trường văn học dịch không mấy suôn sẻ. Sự khó khăn vừa nằm ở những yếu tố dễ nhìn thấy, lại vừa ở cả các yếu tố ít được công chúng rộng rãi biết tới.
(TT&VH Cuối tuần) - Năm 2008, thị trường văn học dịch không mấy suôn sẻ. Sự khó khăn vừa nằm ở những yếu tố dễ nhìn thấy, lại vừa ở cả các yếu tố ít được công chúng rộng rãi biết tới. Nhưng 2008 cũng là một năm văn học dịch Việt Nam tạo bước ngoặt: phát triển và mở rộng của bề mặt không còn quan trọng bằng phát triển theo chiều sâu.
Giấy in, lạm phát, sách lậu, vi phạm bản quyền
Một năm 2008 của một nền kinh tế trồi sụt bất ngờ đi kèm với những thảm họa của lạm phát không thể không gây ảnh hưởng xấu đến một thị trường đặc thù như thị trường xuất bản, bởi ở Việt Nam sách vẫn gần như thuần túy là một mặt hàng xa xỉ. Lượng độc giả có tiền, vẫn mua sách đều đặn bất chấp mọi biến đổi kinh tế, không phải là một con số lớn. Mỗi khi nền kinh tế biến động, các gia đình liền điều chỉnh lại chi tiêu, và tất nhiên các mặt hàng xa xỉ sẽ là đối tượng để cắt giảm đầu tiên.
Khoảng giữa năm 2008, một cuộc khủng hoảng khác ở trong nội bộ ngành xuất bản đã diễn ra: khủng hoảng về nguyên liệu in, ở đây cụ thể là giấy in. Đã có mấy tháng liền nhiều cuốn sách không thể xuất bản ra thị trường được vì nhà in hoặc không có giấy hoặc từ chối in sách vì lo sợ giá giấy sẽ biến đổi không thể lường trước. Có nhà in tuyên bố với nhà xuất bản là thà họ giữ lại số giấy hiện có để bán lại ngay trong ngày còn thu được nhiều tiền hơn là in sách cho các nhà xuất bản. Đến cuối năm tình hình giấy in đã có nhiều khả quan hơn, nhưng câu hỏi cần đặt ra cho các nhà quản lý kinh tế là tại sao hiện tượng đó lại xuất hiện và không được giải quyết triệt để.

|
|
Quản lý của nhà nước trong ngành xuất bản rõ ràng còn xa mới đáp ứng được yêu cầu của giới xuất bản cũng như bạn đọc nói chung. Có thể nhìn thấy sự bị động của cả hệ thống, cũng như thiếu vắng việc xây dựng các kịch bản có thể có sau mỗi lần ban hành các quyết định mới. Chắc chắn là khi quyết định ký kết đưa Việt Nam gia nhập Công ước Berne cách đây bốn năm, người ta không thể hình dung được dù một phần sự phát triển đầy ngoạn mục của xuất bản Việt Nam. Cho đến năm 2008, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội mới bắt đầu thực hiện một cuộc khảo sát ngành xuất bản Việt Nam nhằm tiến tới thay đổi luật xuất bản. Nhưng chỉ sắp tới đây thôi các nhà xuất bản nước ngoài sẽ được phép hoạt động trên thị trường Việt Nam, vẫn chưa thấy các cơ quan quản lý đưa ra một hình dung nào về những gì có thể xảy ra sau đó, khi mà các nhà xuất bản Việt Nam phải trực tiếp cạnh tranh với các đối thủ vô cùng mạnh. Với những gì liên quan đến Công ước Berne, có thể nhìn thấy thực tế là nhờ đẩy mạnh yếu tố tư nhân nên ngành xuất bản Việt Nam không những không bị chững lại mà còn có phát triển mạnh hơn: cho đến nay có thể thấy tuyệt đại đa số bản quyền sách nước ngoài đều nằm trong tay tư nhân. Với những thay đổi sắp tới, yếu tố tư nhân cũng cần được quan tâm đúng mức.
Chiều sâu của mảng dịch thuật văn học

Thứ nhất, các đơn vị xuất bản ngày càng có ý thức mạnh mẽ hơn về bản sắc riêng của mình. Càng ngày càng hiếm hiện tượng ôm đồm, và khi muốn tiến sang một mảng sách không thuộc sở trường vốn có người ta ngày càng thận trọng hơn. Trong dịch thuật văn học, một ví dụ có thể nhìn thấy rõ: NXB Phụ nữ phát triển dòng tiểu thuyết Pháp đương đại dễ đọc, Vinabook chú trọng các giải thưởng Pulitzer, còn Nhã Nam là các giải thưởng Nobel, Goncourt và Booker. Một số nơi trước đây làm sách văn học song song với các mảng khác cũng dần bỏ hẳn văn học.
Thứ hai, chất lượng dịch, chất lượng hình thức và chất lượng biên tập tăng lên đáng kể. Bìa sách đẹp lên rất nhiều, nhất là ở khía cạnh design: các họa sĩ làm bìa truyền thống với cách vẽ bìa như vẽ tranh dần mất chỗ đứng cho thế hệ họa sĩ đồ họa và thiết kệ nghệ thuật. Công việc biên tập sách sau khoảng 20 năm vô cùng thảm hại ở cả ngành xuất bản Việt Nam nói chung đang lấy lại vị thế được coi trọng. Và quan trọng hơn cả là sự xuất hiện một loạt dịch giả tuổi dưới 35 với trình độ ngoại ngữ rất cao và đặc biệt chiếm ưu thế trong việc hiểu cặn kẽ cuộc sống văn hóa và cuộc sống thường nhật của các xã hội nước ngoài.
Thứ ba, năm 2008 không chỉ có những cuốn sách được giải thưởng lớn, những cuốn sách bán chạy và những cuốn sách trinh thám được xuất bản. Để nói đến sự phát triển bền vững của xuất bản văn học dịch còn cần nhìn vào mối quan tâm dành cho các tác phẩm không thực sự nổi bật về thị trường. Năm 2008 chứng kiến sự xuất hiện của một số nhà văn thuộc hàng “khó đọc” và thuộc các nền văn học không được biết đến nhiều ở Việt Nam như Ba Lan, Hungary, Chi lê, rồi các nhà văn cổ điển: Edith Wharton, Jane Austen, Rousseau, Voltaire, Diderot… Một hiện tượng đi kèm nữa là việc tái bản các bản dịch trước đây ít được biết đến hoặc vì nhiều lý do mà không được phổ biến rộng: trong năm 2008 chúng ta có được trở lại Gide, Salinger, Kerouac, Miller, Saroyan, rồi nhân dịp kỷ niệm Bùi Giáng, một loạt tác phẩm dịch của ông.