Từ cái thời của “Như Tây du học”, nhờ con đường xuất dương học hành bên trời Tây mà Việt Nam bắt đầu có các nhà khoa học, ...
(TT&VH Cuối tuần) - Du học là một vấn đề thuộc về lịch sử Việt Nam. Từ cái thời của “Như Tây du học”, nhờ con đường xuất dương học hành bên trời Tây mà Việt Nam bắt đầu có các nhà khoa học, trong đó không ít là các nhà khoa học lớn. Những đợt “Như Tây du học” đầu tiên hồi đầu thế kỷ 20 ấy có tên những người như Nguyễn Xiển, Hoàng Xuân Hãn, Ngụy Như Kon Tum, các tên tuổi không thể không nhắc tới của lịch sử toán học, lịch sử nghiên cứu khoa học xã hội, và cả lịch sử khí tượng thủy văn của Việt Nam.
Những đợt du học lớn thời kỳ sau này cũng liên tiếp tạo ra các trường phái: trường phái Nga (Liên Xô) và Đông Âu, trường phái Trung Quốc, thậm chí cả trường phái Cuba. Giữ nhiều cương vị quan trọng cả trong chính trị lẫn học thuật của Việt Nam hiện nay là những người đã từng MGU, đã từng “Len”, từng Tashkent, rồi những tên tuổi toán học làm nức danh toàn đất nước cũng đều trải qua con đường học hành nơi xứ người: Ngô Việt Trung, Đàm Thanh Sơn, Ngô Bảo Châu, Phan Hà Dương...
Tìm kiếm cơ hội du học
Có lẽ chính là vì căn cứ vào một lịch sử du học phong phú và đầy thành tựu như vậy nên phong trào cho con em đi nước ngoài đã tăng tốc ào ạt cùng với đà phát triển kinh tế và sự mở cửa của đất nước. Sau một quãng thời gian người ta chỉ ra nước ngoài để lao động phổ thông hoặc đoàn tụ gia đình (diện H.O), giờ đây bản đồ tuyến bay của Vietnam Airlines đã dày đặc phủ kín nhiều địa danh, cho dù thỉnh thoảng sân bay Nội Bài có bị dột hay sân bay Tân Sân Nhất cháy thì sự đi lại cũng vẫn cứ tấp nập nhộn nhịp lắm. Người ta đi công tác, đi vì công chuyện kinh doanh tất nhiên là cũng nhiều, nhưng cũng không ít du học sinh đi lại không ngừng từ hai đầu Việt Nam tới những thành phố lớn nhất và các địa điểm heo hút nhất trên thế giới, cho cái sự học hành tấn tới. Nhìn vào tình hình băng-rôn quảng cáo các chương trình du học luôn treo đầy các phố Hà Nội và Sài Gòn đã có thể phần nào hình dung được tầm vóc của công cuộc truy tầm học vấn bên ngoài biên giới ấy. Vào thời điểm này thôi, ở Hà Nội cũng có một chương trình mời chào du học sang Nhật, với sự có mặt của đại diện đến gần 40 trường các loại.
Nhưng dẫu mừng cho việc người Việt Nam đủ điều kiện chi trả cho một lựa chọn tốn kém, cũng phải nhận ra rằng du học đã được hình dung như một phong trào thì kết quả của nó cũng mang tính... phong trào lắm lắm.
Du học sinh Việt Nam tại Anh
Trước hết là một vấn đề đã rất nhiều người nói, nhưng có nói lại bao nhiêu lần nữa cũng không thừa: hệ thống giáo dục ở bất kỳ đất nước nào dù tiên tiến đến đâu cũng đều có phân cấp rất rõ rệt, và chỉ những trường và cơ sở đào tạo hàng đầu mới mang đầy đủ các đặc điểm tinh túy của một nền giáo dục, bởi đã được trải qua thử thách của thời gian (thường là hàng trăm năm) và những thay đổi, cải cách theo những hướng đi cần thiết của từng thời điểm nhất định. Thế nhưng, du học sinh Việt Nam thường xuyên đi học ở các trường thuộc thứ hạng rất thấp, đặc biệt tại các nước có sự dễ dàng tương đối về điều kiện tuyển sinh, chẳng hạn như Pháp và một số nước châu Á. Ở đây tình hình giống như thể người ta đặt cược tương lai vào duy nhất một đánh giá mang tính phổ quát quá rộng lớn (đã là Pháp thì phải hơn Việt Nam, chẳng hạn vậy) và do đó không thể chính xác được.
Một điều cũng quan trọng không kém (và tất nhiên cũng đã được nói rất nhiều) là sự chuẩn bị không mấy tốt về mặt tâm lý cho những thay đổi lớn cả về cách học tập và môi trường sống. Thuật ngữ đã trở thành thời thượng, “sốc văn hóa”, tỏ ra không thể đúng hơn trong trường hợp này. Choáng váng vì độ kỳ vĩ của sân bay Heathrow ở thủ đô London mới chỉ là bước đầu tiên (hiện tượng choáng váng rồi sau đó có các phản ứng rất đặc thù đã được nhiều nhà văn gốc thuộc địa miêu tả và phân tích hết sức sâu sắc, chẳng hạn như trong các tiểu thuyết của nhà văn đoạt giải Nobel Văn học V.S. Naipaul). Từ sân bay Heathrow đi được đến các địa điểm khác, ngoài chuyện các du học sinh nữ thường xuyên say tàu say xe đứ đừ, thậm chí là “mật xanh nanh vàng”, còn là chuyện ngồi trên tàu mà chắn hết đường đi lối lại, túm tụm nói chuyện om sòm và mặc sức bình phẩm “thằng Ấn Độ kia sao mùi hôi thế”, “em mắt xanh trông màu mỡ ngon lành nhỉ”. Rồi những cẳng chân quen ngồi trên xe máy cho những chặng đường dài khoảng 50 mét giờ mãi mới hiểu ra rằng bến tàu điện ngầm gần nhà mình nhất cũng phải tiêu tốn đến 15 phút đi bộ tốc độ cao. Ở Piccadilly Circus hoàn toàn có thể nghe thấy một du học sinh hỏi đường kèm với một từ rất lịch sự “pờ-nít-sờ” (please biến thành pnease theo phát âm của người một số vùng xung quanh Hà Nội).
Du học sinh tại Anh
Nói đi thì cũng phải nói lại: thời của du học trước đây dĩ nhiên là có nhiều hào quang, nhưng không phải là không có những giai thoại cười chảy ra nước mắt: ở các “nước anh em” nghiên cứu sinh có thể trở thành tiến sĩ nhờ biếu nem, thịt gà luộc đúng thời điểm cho giáo sư hướng dẫn. Hoặc là chuyện các vị tiến sĩ Nga làm đảo lộn toàn bộ thị trường bán lẻ vỉa hè của các nước Đông Âu thời hậu sụp đổ.
Ngày nay, một số du học sinh thời kỳ mới, ngoài tiếp nối “truyền thống” về bắt bồ câu trong công viên cho vào nồi cháo cho đỡ nhạt miệng sau hàng núi Fish&Chip (món cá ăn kèm khoai tây rán đặc trưng ở Anh), còn rất dễ rơi vào hai thái cực. Thứ nhất là chăm học quá mức, một ngày dành gần 20 tiếng đồng hồ dùi mài kinh sử, và vẫn giữ thói quen mang sang từ giảng đường nước nhà, nghĩa là đọc đến thuộc lòng giáo trình học trên lớp. Cứ kéo dài mãi như vậy, đầu óc nào chịu đựng nổi sự luẩn quẩn không lối thoát của vài định lý và bài tập, và du học sinh cũng quên luôn là cuộc sống ở nơi đây còn rất nhiều điều để học tập và hưởng thụ bên ngoài nữa: sống ở kinh đô của nghệ thuật như London mà nhiều người cũng không biết vé đi xem phim ở Leicester Square ra sao, khu Soho có những gì.
Thái cực kia là sự buông xuôi đáng sợ, học hành chểnh mảng, chỉ chăm chú tìm những trò giải trí tốn thời gian và không mang lại chút ích lợi nào cho đầu óc. Nhiều nhóm bạn ở cùng nhà hoặc cùng một khu ký túc xá có thể nối mạng chơi game ngày này qua ngày khác, tìm cách đối phó được chăng hay chớ với chuyện học hành, và một số người có thể lập những kỷ lục kinh dị như 9 năm mà không ra được khỏi trường đại học. Nhiều chủ nhà cũng kinh hãi mà không muốn tiếp tục cho du học sinh Việt Nam thuê nhà, vì chỉ cần bước chân qua ngưỡng cửa là đã ngửi thấy mùi nước mắm, đêm đến có thể bật nhạc rất to và đồ đạc không mấy khi được cẩn thận giữ gìn.
|
(Bài viết hưởng ứng diễn đàn trao đổi về Giới trẻ - một thế hệ không ngoảnh lại - chủ đề cuộc Trò chuyện tháng 10 do Hội đồng Anh tổ chức, TT&VH bảo trợ thông tin). |
Trong khi đó, sinh viên nước ngoài luôn được giáo dục sao cho tổ chức được cuộc sống cân bằng giữa học tập và giải trí. Điều đáng học hỏi hơn cả chính là cách điều hòa đó và mức độ tập trung cho cả học hành nghiên cứu (thể lực cũng đóng một vai trò quan trọng ở đây, vì không phải dễ dàng mà có thể thức đêm liên tục vài tuần để hoàn thành một công việc) và tận hưởng cuộc sống (khi đã thoát khỏi việc học để đi du lịch chẳng hạn, một sinh viên nước ngoài có thể lang thang hàng tháng khắp nơi trên thế giới với rất ít tiền và vô cùng nhiều sự tự tin, năng động).
Dư luận xã hội hiện nay ngày càng “bình thường hóa” trong nhìn nhận du học sinh trở về nước (cùng hiện tượng này đã diễn ra trong trường hợp của Việt kiều, thậm chí còn đặt ra cả một thuật ngữ để chỉ giới “Kiều cỏ” cả năm đi xén cỏ thuê dành dụm tiền về quê nhà chứng tỏ sự sành điệu của mình dăm tháng vài bữa). Mọi thứ theo kiểu phong trào đều dần được trả về đúng giá trị thực chất của chúng, kể cả khi các trường nho nhỏ ở Anh bắt đầu mời chào các hoa hậu Việt Nam đến học như một cách thức “chiêu dụ” đầy hào nhoáng.
Hân Thư