|
Dòng Phật giáo thuần nhất mang đậm bản sắc Phật giáo Việt Nam
Nếu như ở Ấn Độ cách đây hơn 2.500 năm trước, Thái tử Tất Đạt Đa từ bỏ hoàng cung xuất gia, sáng lập đạo Phật, thì cách đây hơn 700 năm, đức vua Trần Nhân Tông đã bỏ ngôi vị Thái Thượng Hoàng, vào núi Yên Tử tu Hạnh Đầu Đà, sáng lập dòng thiền Trúc Lâm, một dòng thiền mang tư tưởng nhập thế, vì lợi ích an lạc cho dân Việt Nam. Ảnh hưởng của dòng thiền này vô cùng sâu rộng, cho đến nay Phật giáo Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng trực tiếp của tư tưởng đó.
Nếu như ở Trung Quốc có Lâm Tế Thiền, Tào Động Thiền, Hồng Châu Thiền… với những đặc thù của Nông Thiền, Quan Thiền, Sĩ Đại Phu Thiền, tức thiền cho những người nông dân, giới quan chức, giới trí thức vừa làm việc vừa tu Thiền, thì ở Việt Nam ngoài 3 đặc thù trên lại xuất hiện một loại Thiền đặc biệt, đó là Trúc Lâm thiền với đặc thù: Đế vương thiền – dòng thiền mang tính bao dung, hội nhập tất cả các hệ phái Phật giáo, các nền văn hóa, tư tưởng đương thời để hình thành một tư tưởng mới của dân tộc Đại Việt, mà Trần Nhân Tông là người đại diện. Hạt nhân cơ bản của lý luận thiền này là chữ Tâm. Chữ Tâm với nghĩa “Tâm tùy duyên”, “Tâm tùy tục”, “Tâm thiên hạ”, “Tâm vẳng lặng mà biết”… do chính Thiền sư Thường Chiếu, Đạo Viên và vua Trần Nhân Tông đưa ra. Chữ Tâm này vượt rất xa so với định nghĩa thông thường của Triết học Thiền Tông, nghĩa là tâm cứu độ chúng sinh, tâm giải phóng dân tộc, tâm hòa nhập cộng đồng. Nếu đem tâm này để tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ thì sẽ trở thành tâm của một vị Hoàng đế, vì Đạo pháp, vì dân tộc. Các vua Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Pháp Loa, Huyền Quang cùng các vị đế vương Triều Lý là những hành giả của Thiền phái này. Các vị Thường Chiếu Thiền Sư, Đạo Viên Quốc Sư, vua Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông.v.v. vừa là hành giả vừa là những người sáng lập ra Thiền phái kể trên.
Trần Nhân Tông, vị hoàng đế thứ 3 triều Trần, sinh năm Mậu Ngọ (1258), 21 tuổi lên ngôi Hoàng Đế, đã hai lần trực tiếp cầm quân đánh tan xâm lược Nguyên Mông, năm 35 tuổi lên làm Thái Thượng Hoàng, năm 41 tuổi chính thức xuất gia tu hành tại chùa Hoa Yên – Yên Tử, lấy đạo hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, về sau đổi là Trúc Lâm Đại Đầu Đà, thừa kế Huệ Tuệ Thiền sư làm tổ thứ 6 của Sơn môn Yên Tử. Từ đó thành danh và uy lực của Sơn Môn Yên Tử ngày càng lớn mạnh. Nhân Tông đổi tên Sơn môn Yên Tử thành Trúc Lâm Thiền Phái, tự mình làm Đệ nhất Tổ, với mục đích quy tụ ý chí, sức mạnh của toàn dân tộc hướng về một thế giới tâm linh thuần thiện, thuần mỹ, từ đó hóa thành tinh thần đoàn kết mang tính tổng hợp của cả dân tộc Đại Việt. Tinh thần này được thăng hoa và làm kim chỉ nam, làm xương sống cho cả dân tộc vượt qua muôn vàn khó khăn để có được một quốc gia độc lập, dân tộc được tự do, hạnh phúc.
Giờ Tý ngày 01/11/1308 (Mậu Thân), sau khi căn dặn các đệ tử, Trần Nhân Tông nằm theo thế Sư tử nằm, lặng lẽ thị tịch, và Người được dân tộc tôn vinh là Phật Hoàng, Vua Đời – Vua Đạo.
(Theo Ban Trị sự Phật giáo Quảng Ninh) |