thethaovanhoa.vn

Bí mật về cuộc "vùng vẫy" của Nhật Bản trước khi đầu hàng phe đồng minh (Kỳ 2)

19/11/2008 01:15 GMT+7

Sau những tổn thất lớn ban đầu và bị Nhật chiếm mất nhiều cứ điểm quan trọng ở Thái Bình Dýõng, Mỹ ra sức tăng cường binh lực và trang bị vũ khí.

Sau những tổn thất lớn ban đầu và bị Nhật chiếm mất nhiều cứ điểm quan trọng ở Thái Bình Dương, Mỹ ra sức tăng cường binh lực và trang bị vũ khí.
 
Kỳ 2: Cú hích từ Hội nghị Potsdam
 
Ngoại trưởng Nhật Bản Togo.
Chi phí quân sự từ 4,5 tỷ USD năm 1941 tăng lên 20 tỷ năm 1942 và 38 tỷ USD năm 1943, vượt xa ngân sách quốc phòng của Nhật Bản. Nhờ đó, cuối năm 1943, quân đội Mỹ bắt đầu giành được quyền chủ động trên chiến trường và từ mùa xuân năm 1944 thì tổ chức phản công toàn diện, chiếm lại quần đảo Marianna, các đảo: Saipan, Guam, Tinian… Máy bay Mỹ cũng tiến hành nhiều đợt tấn công, phá hủy các cơ sở sản xuất và căn cứ quân sự ngay trên lãnh thổ Nhật Bản khiến cho quân đội nước này ngày càng thiếu vũ khí, trang bị.

Để tiêu hao binh lực của Mỹ, Nhật Bản quyết định áp dụng chiến thuật tấn công cảm tử bằng máy bay, tầu ngầm và ngư lôi có người lái, gây nhiều khó khăn và thiệt hại lớn cho Mỹ. Tuy nhiên, cái giá mà Nhật Bản phải trả là họ mất gần hết phi công giỏi. Con số thống kê chưa đầy đủ cho thấy các trận tấn công cảm tử đã lấy đi sinh mạng của khoảng 2.200 phi công của Nhật Bản. Chỉ tính riêng trận tấn công hạm đội Mỹ ở đảo Okinawa, pháo phòng không và máy bay Mỹ đã bắn hạ được 169/193 chiếc máy bay cảm tử của Nhật Bản và chỉ có vài chục chiếc là lao trúng mục tiêu. Đây là một thiệt hại không thể bù đắp được đối với Nhật Bản. Nhờ thế, máy bay Mỹ được thể càng tự do tung hoành trên bầu trời Nhật Bản, ném bom rải thảm gây thiệt hại nặng nề, khiến hầu hết các đô thị của Nhật Bản chỉ còn là đống tro tàn.

Ngày 7/5/1945, nước Đức phát xít đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Châu Âu im tiếng súng. Nhưng ở châu Á-Thái Bình Dương, quân phiệt Nhật vẫn điên cuồng chống trả. Trong lãnh thổ, Nhật Bản vẫn còn 2,25 triệu lục quân và 1,25 triệu hải quân, còn tổng số quân ở hải ngoại là khoảng 3,5 triệu, chủ yếu đóng ở Trung Quốc, các nước Đông Nam Á và một số đảo trên Thái Bình Dương.

Toàn cảnh Hội nghị Potsdam năm 1945.
Ngày 18/6, tân Tổng thống Mỹ, Hary Truman triệu tập hội nghị nội các, thảo luận việc hàng phục Nhật Bản. Đại đa số thành viên tham dự nhất trí với ý kiến của Tướng Marshall: Tháng 11 sẽ khởi động chiến dịch Olympia đổ bộ lên Kyushu (miền nam, Nhật Bản). Bất ngờ, Trợ lý Bộ trưởng Lục quân John McCloy đề nghị Tổng thống Truman viết thư gửi Nhật hoàng Hirohito và Thủ tướng Nhật Bản Suzuki, một mặt cho phép Nhật Bản giữ lại ngôi Thiên hoàng trên cơ sở lập hiến, mặt khác đe dọa: Nếu Nhật Bản không đầu hàng, Mỹ sẽ sử dụng bom nguyên tử ném xuống nước này.

Năm giờ 30 phút ngày 16/7, Mỹ thử nghiệm thành công quả bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới ở Alamogordo thuộc bang New Mexico. Tướng Lesle Grove, phụ trách Dự án Manhattan (chương trình chế tạo bom nguyên tử của Mỹ) và cấp phó của mình, Thomas Farrell tận mắt chứng kiến từ đầu đến cuối cuộc thử nghiệm trên. Sức tàn phá khủng khiếp của bom nguyên tử khiến Farrell không kìm nổi sự sung sướng, buột miệng: "Chiến tranh đã kết thúc!". "Chỉ cần ném xuống Nhật Bản 1-2 quả bom kiểu này, chiến tranh sẽ kết thúc".

Ngày 17/7, nguyên thủ 3 nước Mỹ, Anh và Liên Xô nhóm họp tại Potsdam (Đức). Chiều hôm sau, nhà lãnh đạo Liên Xô, Joseph Stalin đưa bức điện của Nhật hoàng Hirohito yêu cầu Liên Xô đối đãi với Konoe như một sứ giả hòa bình. Do phía Mỹ đã giải mã được những bức điện mật trao đổi giữa Bộ Ngoại giao và Đại sứ quán Nhật Bản tại Mátxcơva, nên Truman đã nằm lòng được nội dung bức điện Stalin đưa cho mình. Tuy nhiên, để giữ bí mật, Truman vẫn vờ như không biết và nói rằng việc xử lý thế nào là do phía Liên Xô tự quyết định.

Ngày 18/7, nghĩa là sau hơn 5 ngày kể từ khi nhận được chỉ thị từ Ngoại trưởng Togo về việc sắp xếp chuyến thăm Liên Xô cho Đặc sứ Konoe, Đại sứ Nhật Bản tại Mátxcơva Sato mới nhận được mật hàm của phía Liên Xô. Theo đó, Stalin cho rằng kiến nghị của Nhật hoàng Hirohito khá hàm hồ, sứ mệnh của Đặc sứ Konoe cũng không rõ ràng. Do đó, phía Liên Xô không thể đưa ra bất cứ câu trả lời nào.

Sau khi nhận được tin này, Chính phủ Nhật Bản gần như loạn lên. Qua vài ngày nghiên cứu, đêm 21/7, Togo đành phải để Sato nói rõ: Sứ mệnh của Đặc sứ Konoe là phụng ý chỉ của Nhật hoàng, thỉnh cầu Chính phủ Liên Xô đứng ra hòa giải nhằm kết thúc chiến tranh đồng thời thảo luận với phía Liên Xô một số vấn đề liên quan tới quan hệ hợp tác giữa hai nước trong và sau chiến tranh... Bất chấp sự khẩn cầu, Mátxcơva vẫn giữ thái độ im lặng.

Sáu giờ sáng 27/7, Cục thu, phát tin tức hải ngoại của Nhật Bản thu được bản "Thông cáo Potsdam". Sau khi nghiên cứu, Togo cho rằng do không tham gia ký vào bản thông cáo, nên có thể Liên Xô vẫn giữ thái độ trung lập đối với vấn đề luật pháp của Nhật Bản; các nước Đồng minh đã từ bỏ chủ trương trước đây yêu cầu Nhật Bản phải đầu hàng vô điều kiện một cách tuyệt đối bởi họ đã thay vào đó bằng 8 điều kiện đặc biệt cùng xây dựng nền hòa bình với Nhật Bản. Từ nhận định này, Togo rút ra kết luận: Để lưu lại đường rút cho việc đàm phán hòa bình sau này, cần phải tiếp thu "Thông cáo Potsdam" và Nhật Bản sẽ đưa ra quyết định về thái độ của mình sau khi Liên Xô có câu trả lời cuối cùng về việc cử đặc sứ tới Mátxcơva.
 
Theo Tin Tức
Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN