Chúng là những con vật khổng lồ ở Kỷ băng hà. Nhưng ngay cả lớp da và lông dày của chúng, những con voi mamút, cũng không cứu vãn được chúng trước cái giá lạnh.
(TT&VH) - Chúng là những con vật khổng lồ ở Kỷ băng hà. Nhưng ngay cả lớp da và lông dày của chúng, những con voi mamút, cũng không cứu vãn được chúng trước cái giá lạnh. Tuy nhiên giờ đây gần 10.000 năm sau có một người có thể làm hồi sinh chúng: Đó là tiến sĩ Nhật Bản Teruhiko Wakayama. Ông vừa nhân bản vô tính thành công những con chuột từ một con chuộc gốc đã chết và được ướp lạnh từ 16 năm nay.
Thành tựu có một không hai
|
Nhà khoa học trẻ
tài năng, tiến sĩ Teruhiko Wakayama |
Các nhà khoa học tại Trung tâm Công nghệ sinh học phát triển (CDB) thuộc Viện Lý hóa Nhật Bản (RIKEN) với trụ sở đóng tại Kobe (Nhật Bản) đã khiến dư luận chú ý khi họ nhân bản vô tính thành công 4 con chuột từ tế bào của một con "chuột gốc" đã chết. Con chuột lìa đời từ 16 năm trước, nhưng xác của nó được bảo quản cẩn thận trong môi trường đông lạnh, ở nhiệt độ -20 độ C. Thử nghiệm được thực hiện 11 năm sau khi các nhà khoa học Anh khiến thế giới sửng sốt với việc nhân bản thành công cừu Dolly. Sau đó nhiều loại động vật khác đã được nhân bản, nhưng người ta chỉ sử dụng vật chất di truyền từ tế bào sống. Đây là lần đầu tiên giới khoa học nhân bản thành công một con vật đã chết và bị đông lạnh mà không qua bảo quản.
Nhà sinh học George Seidel ở Đại học Colorado, Mỹ, cho hay thế giới từng tiến hành nhân bản vô tính vài con gia súc đông lạnh. Nhưng người ta chỉ làm được điều đó khi các mô của con vật đã qua xử lý kỹ càng và việc bảo quản diễn ra ở nhiệt độ siêu lạnh. Trong khi đó con "chuột gốc" kể trên không qua bất kỳ hình thức xử lý nào và chỉ được bảo quản ở nhiệt độ đông lạnh hết sức bình thường. Trước đây người ta nghĩ rằng nếu không qua xử lý, các tinh thể băng đá sẽ hủy diệt tế bào và các ADN của cơ thể đông lạnh, khiến việc nhân bản vô tính không thể thực hiện. Nhưng các nhà khoa học Nhật đã biến điều không tưởng thành hiện thực. Cả 4 con chuột hiện đều đang phát triển bình thường.
|
Liệu có thể hồi sinh voi ma mút |
Bí quyết "tái sinh"
Lãnh đạo nhóm nghiên cứu của CDB là tiến sĩ Teruhiko Wakayama, một nhà khoa học trẻ và tài năng. Ông là người đầu tiên trên thế giới tạo thành công chuột vô tính vào năm 1998 trong thời gian nghiên cứu sau tiến sĩ tại Đại học Hawaii. Năm 2002, Wakayama đã trở về Nhật Bản theo lời mời của chính phủ Nhật Bản để tham gia nghiên cứu tại viện CDB. Tại đây ông đã dành hết tâm sức cho việc nghiên cứu hoạt động nhân bản vô tính.
|
2 trong 4 con chuột
vô tính mới chào đời |
Wakayama và các cộng sự thành công vì họ đã phát hiện ra rằng với trường hợp của con chuột đông lạnh, không thể áp dụng kỹ thuật nhân bản thông thường, do tế bào mô đã bị băng đá phá hủy. Vì thế nhóm Wakayama đã có quyết định táo bạo là dùng tế bào não, vì tin rằng hàm lượng mỡ cao trong các mô não giúp DNA không bị tổn thương. Đây là lần đầu tiên có một con chuột đươc nhân bản từ tế bào não.
Ngoài ra nhóm Wakayama còn quyết định thêm một bước vào quy trình nhân bản vô tính. Cụ thể sau khi tạo nên phôi bằng kỹ thuật bơm DNA trực tiếp, các nhà khoa học đã trích tế bào gốc của phôi này và dùng kỹ thuật chuyển nhân truyền thống để tiếp tục tạo nên một phôi mới. Phôi này khi được cấy vào tế bào trứng của một con chuột cái sống mang thai hộ đã phát triển bình thường và cho ra đời những con vật có gene di truyền giống hoàn toàn con chuột đông lạnh.
Tham vọng to lớn
Sau thành công ban đầu, Wakayama và các cộng sự đã tin rằng nghiên cứu của họ sẽ giúp mang lại nhiều lợi ích. Chẳng hạn, giới khoa học có thể dùng kỹ thuật này để hồi sinh những động vật đã tuyệt chủng nhưng được bảo quản nguyên vẹn trong băng, như hổ răng kiếm, voi mamút. Cho tới nay người ta đã phát hiện ra nhiều con voi mamút được bảo quản khá tốt trong các lớp băng tuyết vĩnh cửu ở Siberia. Từ kỹ thuật nhân bản thành công con chuột đông lạnh trên, tại sao không thể nghĩ tới việc phục sinh những con voi mamút ướp trong băng giá đó.
|
Con "chuột mẹ" trong trạng thái đông lạnh |
Tuy nhiên, không ít nhà khoa học đã tỏ ý nghi ngờ về khả năng thành công với các động vật đã tuyệt chủng vì khi nhân bản những động vật như voi mamút, người ta sẽ khó tìm thấy trứng và con vật mang thai hộ phù hợp.
Betsy Dresser, Phó Chủ tịch phụ trách nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu Audubon nhằm bảo vệ các động vật bị đe dọa, đã lên tiếng ủng hộ thành tựu của các nhà khoa học Nhật. Nhưng bà kêu gọi thế giới cần có những quan điểm thực tiễn hơn liên quan tới hoạt động bảo tồn: "Tôi cho rằng chúng ta nên quan tâm hơn tới các động vật đang tồn tại, thay vì việc hồi sinh khi chúng đã tuyệt chủng" - bà Dresser nói.
Gia Bảo