thethaovanhoa.vn

Bài 3: Cần khôi phục các di vật đã mất trên núi Nghĩa Lĩnh

26/09/2008 10:08 GMT+7

Cùng với việc đề xuất ý tưởng thiết kế tháp Hùng Vương, nhà nghiên cứu Vũ Kim Biên còn đề nghị nên làm lại Hạt lúa thần, Cột đá thề, Phù điêu...

(TT&VH) - Cùng với việc đề xuất ý tưởng thiết kế tháp Hùng Vương, nhà nghiên cứu Vũ Kim Biên còn đề nghị nên làm lại Hạt lúa thần, Cột đá thề, Phù điêu thể hiện cảnh bàn việc nước của Vua Hùng...
 
»» Tháp Hùng Vương - có nên đặt ở đồi Mom Gà?
»» Nên xây tháp Hùng Vương như thế nào?

Từ hàng ngàn năm trước…

 Cột miếu cổ (thường giới thiệu là Cột đá thề của Thục Phán)
Trên núi Nghĩa Lĩnh hiện có Đền Thượng, Lăng Vua Hùng, Đền Trung, Đền Hạ, chùa Thiên Quang thiền tự, gác chuông, các tháp sư, Đền Giếng, và các công trình phụ khác.

Đền Thượng nguyên thủy là miếu thờ Trời (Kính thiên lĩnh điện) và thần Núi, thần Lúa, do Vua Hùng thứ 6 lập ra cách nay hơn 3000 năm. Hẳn rằng thời đó tổ tiên ta kiến thiết bằng tre gỗ lá kết hợp với cột đẽo bằng đá. Chiếc cột đá đặt trên bệ ở trước Đền Thượng chếch về phía tây chính là cột miếu cổ của thời Hùng Vương, mà người ta thường giới thiệu là Cột đá thề của Thục Phán. Các kiến trúc nối tiếp dưới thời Bắc thuộc có lẽ cũng bằng tre gỗ lá nên không còn vết tích. Sau khi giành lại được độc lập, các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê xây dựng Đền Thượng bằng gạch ngói, và đặt chế độ miễn sưu thuế phu phen đi lính cho dân Hy Cương, để giao cho nhiệm vụ trông nom đền miếu, sửa chữa, cúng tế, gọi là dân Trưởng tạo lệ. Sang triều Nguyễn, đời vua Tự Đức, năm 1874 sai Tổng đốc tam tuyên (kiêm quản 3 tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, Tuyên Quang) Nguyễn Bá Nghi xây dựng lại Đền Thượng, và định chế độ đối với dân Trưởng tạo lệ là: giao cho 25 mẫu ruộng cấy lấy hoa lợi đèn hương, và đến kỳ giỗ Tổ thì cấp thêm 100 đồng bạc trắng để sửa cỗ tam sinh (trâu, dê, lợn) cho quan lại của tỉnh về tế ở Đền Thượng.

Đền Thượng vừa trùng tu, còn giữ bức trấn phong của thời Nguyễn.

- Lăng Vua Hùng: nguyên thủy là mộ Vua Hùng thứ 6. Thời nhà Lê vẫn giữ hình thức mộ đất, có mái lợp ngói tì lên 4 cột đá. Trong dịp vua Tự Đức cho làm lại Đền Thượng năm 1874 mới xây mộ gạch và xây lăng miếu trùm lên. Năm 1917 lăng được trùng tu và vừa qua lại trùng tu, mở rộng thêm sân lăng.

- Đền Trung: nguyên xưa là quán nghỉ ngơi khi các Vua Hùng lên làm lễ ở Kính thiên lĩnh điện. Có lúc dùng họp bàn việc nước cơ mật với các Lạc hầu Lạc tướng. Sau khi thời đại Hùng Vương kết thúc quán được biến thành đền thờ Vua Hùng. Trải qua hàng nghìn năm các vật liệu tre gỗ lá nối tiếp nhau dựng lên và tiêu nát. Thời Đinh, Lê, Lý, Trần đưa kiến trúc gạch ngói lên, còn để lại phế tích. Đền hiện thấy làm thời Hậu Lê, cũng đã trải qua trùng tu phần mái lợp và cửa gỗ.

- Đền Hạ: cũng như Đền Trung, là kiến trúc Hậu Lê còn lại, đã trải qua trùng tu phần mái và cửa gỗ.

- Chùa Thiên Quang thiền tự là hậu thân của chùa Sơn Cảnh Vĩnh Long tự làm năm Đại Định thứ 5 (1145) đời vua Lý Anh tông. Chùa Thiên Quang do bà chúa Chè (Đặng Thị Huê) vợ chúa Trịnh Sâm (1767 – 1782) xây dựng để cầu phúc cho con là Trịnh Cán thường ốm đau luôn. Chùa vừa được trùng tu.

- Gác chuông làm thời Lê cũng vừa được trùng tu.

- Đền Giếng: nguyên xưa có giếng Ngọc của hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa dùng rửa mặt chít khăn. Cuối thời Hậu Lê làm đền trùm lên giếng. Trong đợt nhà Nguyễn tổ chức đại trùng tu 6 năm liền (1917 – 1922) Đền được làm lại như hiện thấy và tạc tượng hai công chúa để thờ.

Những hiện vật cần khôi phục

Theo tôi tất cả các đền chùa lăng tẩm kể từ nay trở đi cần giữ nguyên trạng. Vì nó thuộc các kiến trúc cổ vô cùng quý giá hiếm hoi. Nó là vật chứng cho lịch sử thờ tự và lịch sử kiến trúc trên ngọn núi Nghĩa Lĩnh này. Nó là chiếc gạch nối giữa các kiến trúc Lý Trần về trước và các kiến trúc của thời đại chúng ta ngày nay. Sau này có bộ phận nào hư hỏng thì mới phải thay bộ phận đó theo phương pháp phục chế nguyên gốc.
 
Sơ đồ khu di tích đền Hùng. Ảnh do tác giả cung cấp

Riêng đối với các hiện vật lịch sử trên núi đã bị mất thì nhất thiết phải khôi phục lại. Đó là:

1) Cho làm hạt lúa Thần treo trên Đền Thượng. Chúng tôi đã có công trình nghiên cứu chứng minh rằng Vua Hùng thứ 2 (Lạc Long Quân) là thủy tổ của nghề trồng lúa nước theo phương pháp gieo mạ cấy lúa cách nay 4500 năm, dùng xứ Đồng Lú truyền dạy cho dân. Do hạt lúa là nguồn sống của dân ta nên các Vua Hùng đã thờ thần Lúa, về sau nhân dân tiếp tục thờ. Hạt thóc Thần đục bằng gỗ to như chiếc thuyền câu treo ở Đền Thượng, mới bị quân Pháp lấy mất năm 1949. Hiện vật này hết sức giá trị cần khôi phục lại.

2) Tại sân Đền Trung nên có một bức phù điêu bằng đá tả lại quang cảnh quán bàn việc nước của Vua Hùng với các Lạc hầu Lạc tướng. Nó vừa nhắc nhớ dấu vết lịch sử, vừa thêm phần hấp dẫn.

3) Tại Đền Hạ: nên tạc bức phù điêu bằng đá hình vuông mỗi bề 4 đến 5 mét, minh họa truyền thuyết Tiên Rồng sinh ra bọc trăm trứng, trăm con trai. Tất nhiên nó không phải là di vật đã mất như Hạt lúa thần, Cột đá thề và Quán bàn việc nước, nay tìm cách khôi phục lại; mà bức phù điêu này là một sáng tạo mới nhằm ghi nhớ truyền thuyết, làm tăng phần hấp dẫn khách tham quan

4) Tiến hành nghiên cứu vị trí đặt hai Cột đá thề của Thục Phán. Ngọc phả viết rằng “Lập lưỡng thạch trụ ư sơn trung” nghĩa là dựng hai cột đá ở giữa núi (chứ không phải đỉnh núi). Chiếc cột đá đặt trên bệ trước Đền Thượng là cột miếu chứ không phải cột đá thề. Khi xác định được vị trí rồi thì nên dựng lại hai cột đá thề đó để ghi nhớ sự tích, và tất nhiên sẽ thêm hấp dẫn.

Ngoài ra, cần tăng cường kè đá chống sói lở ở phía Tây Đền Thượng. Năm 2000 tôi có đề nghị ông Nguyễn Hữu Điền, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ cho kè đá từ chân núi lên để bảo vệ Đền Thượng, vì đã xói lở vào đến sát nhà quan cư cách Đền chỉ 5 – 6 mét, và có biện pháp chống rửa trôi vì móng Đền Thượng đã hở ra 25 cm. Ông Điền lên thị sát và sau đó 1 tháng thì cho kè đá phía tây Đền và xếp đá phiến quanh Đền chống xói mòn. Tuy nhiên việc kè đá vẫn còn hạn chế, chưa tới mặt bằng. Theo tôi dù tốn kém đến đâu vẫn phải kè tiếp, không những lên tới mặt bằng nền nhà quan cư, mà còn mở rộng thêm hành lang từ đầu nhà quan cư đến đường bậc lên đền, để đồng bào đứng trong những ngày lễ hội.

Nhà nghiên cứu Vũ Kim Biên

Bài 4: Cần xây dựng công trình kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng tầm!

 

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN