Hiện nay, chỉ có 20% DNNVV có thể thích nghi được với các điều kiện thị trường, 60% bị chi phối bởi những tác động nêu trên, 20% còn lại ngừng sản xuất, chuyển đổi hoạt động...
“Sự phát triển quá nhanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong khi các điều kiện chưa đáp ứng được cho hoạt động kinh doanh là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng nhiều doanh nhân này lâm vào tình trạng bế tắc”, ông Cao Sỹ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội DNNVV nhận định.
![]() Ông Cao Sỹ Kiêm |
* Ông đánh giá thế nào về vai trò của các DNNVV?
DNNVV hiện chiếm trên 90% trong tổng số gần 300.000 doanh nghiệp trên toàn quốc, sử dụng 45 - 50% lực lượng lao động, đóng góp trên 40% hàng tiêu dùng và nộp ngân sách trên 30%. Như vậy, loại hình doanh nghiệp này có vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Trước đây, do sự ràng buộc bởi các quy định, nên DNNVV không phát triển, nhưng từ khi có chủ trương khuyến khích dân doanh thì số lượng loại hình doanh nghiệp này đã tăng rất mạnh. Do phát triển quá nhanh, nên việc chuẩn bị về nhân sự, người lao động, cũng như trình độ quản lý của lãnh đạo chưa đáp ứng được, dẫn đến sự lúng túng trong hoạt động.
* Cụ thể đó là những khó khăn gì, thưa ông?
Hiện tại, 4 vấn đề nổi cộm đối với các DNNVV là vốn, đào tạo nghề, kinh nghiệm làm ăn và sự bình đẳng về quyền lợi. Cụ thể, các doanh nghiệp có nhu cầu rất lớn về vốn sản xuất - kinh doanh, song khả năng tiếp cận nguồn vốn rất khó.
Về đào tạo nghề cho người lao động, do chưa có hệ thống đào tạo, mà chủ yếu là hoạt động tự phát, nên số lao động được đào tạo trong các DNNVV mới chiếm khoảng 23%. Trong khi đó, kinh nghiệm kinh doanh, sản xuất, khoa học - kỹ thuật, thị trường, văn hoá kinh doanh còn nhiều hạn chế. DNNVV cũng là đối tượng ít được ưu ái về chính sách, vì bản thân họ chưa đáp ứng được các quy định như thế chấp, bảo lãnh...
* Hiện tại, một bộ phận lớn người lao động trong các DNNVV đối mặt với nguy cơ thất nghiệp. Theo ông, cần giải quyết vấn đề này như thế nào?
Đây quả là một vấn đề nan giải. Hiện nay, chỉ có 20% DNNVV có thể thích nghi được với các điều kiện thị trường, 60% bị chi phối bởi những tác động nêu trên, 20% còn lại ngừng sản xuất, chuyển đổi hoạt động... Theo tôi, phá sản hoặc giải thể là tất yếu trong nền kinh tế thị trường, chúng ta phải chấp nhận. Kỳ vọng vào việc giải quyết tốt đẹp đối với các doanh nghiệp yếu kém là không thể. Bản thân các doanh nghiệp đang dư thừa lao động, mà mở ra cái mới thì càng làm cho tình hình trở nên nan giải hơn.
* Có ý kiến cho rằng, đã đến lúc Nhà nước nên nới lỏng chính sách tiền tệ để giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Với tư cách là Phó chủ tịch Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, quan điểm của ông thế nào?
Năm 2008, với khó khăn chung của nền kinh tế, tình hình của các DNNVV càng trở nên trầm trọng hơn. Khó khăn lớn nhất mà hầu hết doanh nghiệp đang đối mặt là thiếu vốn. Trước đó, các doanh nghiệp vẫn được vay vốn bình thường, nhưng năm 2008, Nhà nước thắt chặt chính sách tín dụng, nên doanh nghiệp rơi vào tình thế rất khó khăn.
Nếu như có hỗ trợ của Nhà nước cả về vốn và chính sách điều hành, cùng với nỗ lực của doanh nghiệp như điều chỉnh hoạt động, giảm chi phí, tiếp cận thị trường thì doanh nghiệp mới có thể vượt qua được khó khăn.
Trong điều kiện thiếu vốn như hiện nay, việc tập trung vào lĩnh vực nào cần phải được cụ thể hóa, tránh tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả, như dự án nào gần hoàn thành thì nên hỗ trợ, dự án mới hình thành và chưa triển khai thì nên xem xét lại một cách cụ thể.