thethaovanhoa.vn

Điểu Kâu: Cánh chim đại ngàn đã ngừng bay

30/08/2008 14:00 GMT+7

Điểu Kâu, dịch giả sử thi Mnông nổi tiếng, đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng của ông ở bon (làng) Bu Prâng. Sự ra đi của ông như cánh chim đại ngàn đã ngừng bay.

(TT&VH) - LTS: TS Đỗ Hồng Kỳ là một trong những nhà khoa học sớm gắn bó với sử thi Tây Nguyên. Ông là người đã phát hiện ra Ot Ndrong, bộ sử thi đồ sộ của người M’Nông với dung lượng hàng đầu thế giới. Trong dự án sưu tâm biên soạn sử thi Tây Nguyên thời gian qua, ông đã đóng góp với hàng loạt công trình. Hiện ông công tác ở Viện Phát triển Bền vững vùng Tây Nguyên (Viện KHXH VN)

Trước sự ra đi của dịch giả Điểu Kâu - một người đồng nghiệp lớn, một người bạn, người anh ở Tây Nguyên - ông đã có bài viết chia sẻ với bạn đọc TT&VH.

1. Điểu Kâu, dịch giả sử thi Mnông nổi tiếng, đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng của ông ở bon (làng) Bu Prâng, xã Dak Ndrung, huyện Dak Sông, tỉnh Đắk Nông, lúc 7h45 ngày 28 tháng 8 năm 2008. Tôi hình dung sự ra đi của ông như cánh chim đại ngàn đã ngừng bay.
 
Điểu Kâu (trái) và TS Đỗ Hồng Kỳ trao đổi về sử thi Mnông

Điểu Kâu đam mê vốn văn hóa truyền thống của dân tộc mình từ bé. Đêm đêm cậu bé Điểu Kâu cùng đám bạn ngồi trong ngôi nhà trệt có mái tranh trùm gần sát đất, vừa ăn bắp nướng vừa nghe ông bà hát kể sử thi Ot Ndrong. Những câu chuyện sử thi li kì, huyền hoặc, không khí ồn ào, sôi động của rừng cây, sông suối, của các lực lượng siêu nhiên được nhân hoá trong sử thi thấm dần vào ông. Càng lớn lên, Điểu Kâu càng nhận thức sâu sắc rằng nếu không ghi chép lại sử thi thì nó sẽ dần dần theo ông bà chìm sâu trong lòng đất. Thời chính quyền Sài Gòn, Điểu Kâu đã đề nghị được cung cấp kinh phí để làm việc này nhưng không được chấp nhận.

Giáo sư Ngô Đức Thịnh, cố Thạc sĩ Tô Đông Hải và tôi quen biết Điểu Kâu vào năm 1989. Tiếp sau đó là Trương Bi (Sở VH-TT&DL tỉnh Đăk Lăk). Từ đó đến nay, chúng tôi thân quen như những người bạn, người anh, người em.

Ấn phẩm đầu tiên của chúng tôi với Điểu Kâu là tác phẩm “Sử thi cổ sơ Mnông” (năm 1993). Sau đó, chúng tôi cùng khảo sát ở các bon làng Mnông để có một danh mục khoảng 100 tác phẩm Ot Ndrong. Đây là cơ sở quan trọng nhất để Nhà nước cho phép triển khai dự án “Khảo sát, sưu tầm, biên dịch, xuất bản và bảo quản kho tàng sử thi Tây Nguyên”. Kết quả của dự án này thật to lớn: 75 tác phẩm văn hóa phi vật thể của đồng bào thiểu số ở Tây Nguyên và vùng phụ cận được xuất bản.

2. Công việc phiên âm, dịch thuật của Điểu Kâu về sử thi Mnông là độc nhất vô nhị. Tôi tin rằng ở Việt Nam chưa có một ai lại có thể dịch nhiều sử thi như Điểu Kâu, và trên thế giới nếu có cũng là rất hiếm.

Thời gian thực hiện Dự án sử thi, Điểu Kâu đã vắt sức để phiên âm và dịch. Hầu như ông đã làm việc suốt ngày, đêm chỉ ngủ ba, bốn tiếng. Tôi nhiều lần nhắc làm vừa sức thôi nhưng ông không chịu nghe. Điểu Kâu đã vắt kiệt sức mình vì kho tàng sử thi đồ sộ và vĩ đại của người Mnông.

Điểu Kâu vốn là người cẩn trọng, tinh tế và nghiêm túc. Khi dịch đến đoạn “…quan hệ với nước” để tạo ra loài người, Điểu Kâu vẽ cái máy bay trực thăng và nói với tôi: “Con vật đó giống như cái này”. Tôi nói: “Con vật đó tiếng Việt gọi là con chuồn chuồn”. Thế là thành câu “con chuồn chuồn quan hệ với nước”. Qua nhiều bản dịch của ông, chúng ta thấy vừa bộc lộ được cái cốt cách, bản sắc Mnông vừa có cái tinh tế, tài hoa của người nghệ sĩ. Đây là hình ảnh người đàn ông Mnông cổ truyền: "Trên cổ Bông đeo vòng bạc/Bông bới tóc buộc thêm chỉ màu/Cắm thêm lông chim công/Cắm thêm lông chim én/Cắm cả lông chim cu lưa thưa”. Ông nhiều lần tâm sự với tôi: nếu dịch sai là có lỗi với bà con đồng tộc của mình.

Điều quan trọng hơn là Điểu Kâu có cái tâm, cái hồn: đó là tâm hồn nghệ sĩ dân gian dễ nhận ra vẻ đẹp bí ẩn, “ma thuật” của mái ngôi nhà trệt, của tiếng kèn mbuăt “làm rung đuôi mái nhà”, làm cá mải “lắng nghe ngừng táp mồi”, nhất là “Từ đó Tiăng bắt đầu cười/Nó cười như cá thoát đơm/Như khố cười đùi/Như ché rượu cười cần”. Điều quí nhất là Điểu Kâu rất yêu văn hóa cổ truyền của dân tộc mình, biết hành động để gìn giữ những gia tài vô giá của ông cha để lại. Bằng con đường dấn thân, hầu như ở vùng nào có người Mnông sinh sống đều in dấu chân ông. Tôi xin được chép ra đây mấy vần thơ ghi lại thời kì chúng ta đã cùng nhau dấn thân vì vốn văn hoá vô giá của tộc người Mnông:
 

Tây Nguyên mùa khô nóng

Bụi đỏ bay mù trời

Những nẻo đường xa ngái

Bước chân ai còn in…

Trang sử thi tinh nguyên

Vương mùi hương của đất

Có người đã ngã xuống

Góp luống cày đầu tiên…

Điểu Kâu ơi, xin vĩnh biệt Anh! Cánh chim đại ngàn đã ngừng bay. Nhưng những cái gì là chân chính và đích thực sẽ tồn tại mãi mãi. Ở cõi Vĩnh Hằng xin Anh hãy tin như vậy!

TS Đỗ Hồng Kỳ

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN