Anh Vương Văn Xới, anh trai cả của anh Triển (kỵ sĩ đua ngựa Na Hối) năm nay hơn 50 tuổi, nay làm nghề bán thắng cố chó ở chợ Bắc Hà – Lào Cai.
(TT&VH) - Anh Vương Văn Xới, anh trai cả của anh Triển (kỵ sĩ đua ngựa Na Hối) năm nay hơn 50 tuổi, nay làm nghề bán thắng cố chó ở chợ Bắc Hà – Lào Cai. Trông anh chàng béo lùn, tay dao tay thớt tất bật pha thịt chó, không ai nghĩ rằng hai mươi năm trước, anh từng là một tay đua có hạng ở các cuộc đua ngựa đầu xuân Bắc Hà. Nhưng những cuộc đua ngựa hồi trước khác bây giờ rất nhiều...
Khi chúng tôi đến quán của anh Xới thì đã gần trưa. Ngơi tay bán hàng, anh rất hồ hởi ngồi nhâm nhi với chúng tôi chén rượu ngô và say sưa kể về những “trận” đua ngựa trước đây. Bắc Hà có 14 dân tộc sinh sống, thì người Mông chiếm một nửa, sau đó là tới người Tày, người Nùng. Mùa Xuân hoặc ngày chợ phiên, người các dân tộc cưỡi ngựa xuống núi đi chợ (Bắc Hà có chợ phiên từ những năm 1930-1940), khoe áo quần, và khoe cả ngựa.
Chân dung một kỵ sĩ vùng cao... không có gì như thế này đây
Đua ngựa là hoạt động thể thao thượng võ rất được đám thanh niên Mông, Tày, Nùng... ưa thích, mặc dù giải thì chẳng có gì nhiều. Có khi chỉ là đua chơi thế thôi, để chứng tỏ cái “sức nam nhi”. Và cũng không phải đua ngựa chỉ là cuộc chạy “điền kinh, việt dã” như bây giờ. Việc đua ngựa hồi đó là những cuộc rèn luyện võ nghệ để trai tráng có đủ sức mạnh để bảo vệ thôn bản. Đua ngựa bao giờ cũng kèm theo bắn súng mới đầy đủ tính chất của một cuộc đua cổ truyền...
Ở từng thôn bản, cũng có những cuộc đua lẻ tẻ nhân ngày hội (Bắc Hà có 237 thôn bản) với một hai chục kỵ sĩ. Ở dưới thị trấn thì cuộc đua diễn ra trên quãng đường từ ngã ba chợ Bắc Hà đến dinh Hoàng A Tưởng (kiến trúc cổ kính nhất Bắc Hà do thổ ty người Tày Hoàng Yến Chao, bố của thổ ty Hoàng A Tưởng xây từ năm 1914 đến năm 1921, do hai kiến trúc sư Pháp và Trung Quốc cùng thiết kế và thi công). Dinh Hoàng A Tưởng hồi đó đẹp lắm, không như bây giờ đâu, anh Xới kể (dinh Hoàng A Tưởng mới được phục chế lại, trông chán ngắt như mấy tòa biệt thự “Pháp rởm” mới xây ở dưới xuôi. Có lẽ chỉ còn mỗi lớp mái ngói âm dương là còn giữ được chút vẻ cũ). Tòa dinh thự kiêm pháo đài rêu phong cổ kính giữa thung lũng Bắc Hà hồi đó đã trên nửa thế kỷ. Trước mặt dinh có một khoảng đất rộng, lại có một dòng suối nhỏ uốn quanh bên ngoài. Đoàn đua ngựa lấy điểm xuất phát từ ngã ba chợ phi về dinh Hoàng A Tưởng (độ dài khoảng 1km, đường không phẳng mà có đoạn khá dốc, ngoặt), tới dinh, kỵ sĩ phải nhảy xuống rồi bắn súng ngay lập tức (mỗi người được phát 5 viên đạn) vào tấm bia đặt bên kia bờ suối. Bắn xong, lại nhảy lên ngựa phi về điểm xuất phát. Giải nhất thuộc về kỵ sĩ nào phi nhanh nhất, bắn trúng nhiều nhất. Nhưng gần như cuộc đua nào cũng có người bị ngã ngựa, bị thương, có khi còn bị chết...
Một kỵ sĩ đi dép tông Lào bị ngựa hất xuống đường đua
(ảnh Phương Hoa – Xuân Trường – TTXVN)
Có lẽ phải tả qua cách cưỡi ngựa của người miền núi mới hiểu cái khó và sự dũng cảm của một kỵ sĩ vùng cao hoang sơ. Người miền núi thường cưỡi ngựa “kiểu người da đỏ cưỡi ngựa trước khi có thực dân châu Âu đến”, tức là không có yên cương, bàn đạp gì cả. Chỉ có một chiếc bao tải hoặc miếng vải buộc phủ lên lưng ngựa. (Yên cương bàn đạp chỉ dành cho thổ ty, quan lại, cấp chỉ huy... trước đây. Sau này, lính biên phòng cưỡi ngựa cũng có yên cương. Một bộ yên bằng da đẹp có khi giá tiền bằng nửa hoặc cả con ngựa). Hàm thiếc và đai buộc đầu ngựa chỉ bằng dây thừng bện, có hai cái móc sắt buộc dây vào hai bên hàm để điều khiển. Kỵ sĩ không thể cầm roi để quất ngựa được, vì hai tay cầm dây thừng buộc làm dây cương, vừa điều khiển, vừa để giữ thăng bằng để khỏi ngã. Cũng không có đinh thúc ngựa ở đế giày (xem giày dép của các kỵ sĩ đua ngựa rất... buồn cười: dép rọ, giày da, giày bộ đội, dép râu... Có người đi cả dép tông Lào để cưỡi ngựa). Tóm lại, việc cưỡi ngựa hoàn toàn là cưỡi “chay” như nguyên thủy.

Một kỵ sĩ đầu bạc trong cuộc đua (ảnh Phương Hoa – TTXVN)
Nài đua chuyên nghiệp mà nhìn thấy kiểu cưỡi ngựa “tra tấn” này là choáng. Với cách cưỡi ấy, thì để giữ thăng bằng cho khỏi ngã gãy cổ, cũng đã là khó, nói gì đến việc phi nước đại rồi nhảy phắt xuống bắn súng. Tôi cưỡi thử con ngựa Hoa của kỵ sĩ Triển, một vòng quanh sân vận động Bắc Hà, vậy mà khi nhảy xuống, đã... sứt cả mông vì cái xương sống ngựa gồ chọc lên. Kỵ sĩ giỏi phải ngồi chỗ lõm xuống gần vai ngựa, chân kẹp chặt vào bụng ngựa, nhưng nói chung là vẫn rất khó. Vậy mà những cuộc đua ngựa hồi ấy người xem lúc nào cũng đông. Và ai về nhất thì được các thiếu nữ xuống chợ ngưỡng mộ lắm, điều đó đối với các kỵ sĩ giá trị hơn cả giải thưởng là bộ ấm chén, hay chiếc áo thêu thổ cẩm. Hỏi anh Xới, đã bao giờ đoạt giải Nhất chưa? Anh bảo chưa, nhưng có lần đã đoạt giải Nhì, bắn súng 5 phát trúng ba phát (có kỵ sĩ Mông bắn rất giỏi mà chẳng trúng phát nào. Bởi vừa xuống ngựa thân người chưa ổn định, bia lại đặt bên kia bờ suối nên “nước hút đạn”, cực kỳ khó bắn).
Chén rượu ngô kề lên môi, để hồi lâu mà anh Xới không uống, mặt bần thần, chừng như anh đang “ngậm ngùi nhớ thuở tráng niên qua rồi”. Chợt anh đặt chén xuống, bảo em mình: “Tao bảo thằng Triển này, bây giờ mày đua ngựa phong trào thì cứ đua. Nhưng đừng có mong về nhất, cốt yếu là đừng có để ngã ngựa là được. Tao thấy đua chạy ba vòng quanh sân vận động, ngựa chóng mặt dễ ngã lắm. Để ngựa dẫm phải thì khốn... ”. Nói rồi, anh Xới xắn tay áo lên cho chúng tôi xem, cái tay gãy nổi u của anh do đua ngã, bị ngựa dẫm phải nhiều năm trước, anh bảo, thế là phúc ông bà còn to, còn may mắn so với nhiều người lắm đấy... Nhưng hồi trẻ nó thế nào, trông thấy chết mà chẳng coi ra quái gì!
Vũ Lâm
(Còn nữa)