thethaovanhoa.vn

Đẹp theo chuẩn Việt

20/07/2008 00:10 GMT+7

Người đẹp Việt truyền thống cũng phải có khuôn mặt trái xoan ưa nhìn, mũi dọc dừa xinh, má lúm đồng tiền, cằm thon, lông mày lá liễu, môi ăn trầu đỏ tươi, răng đen hạt na đều tăm tắp…

(TT&VH Online) - Thật tinh tế khi dân gian Việt khen cái đẹp “bắt mắt” nhất của người đẹp Việt là ở dáng người.

1. Là chủ thể nền văn hóa nông nghiệp điển hình, với văn minh lúa nước đặc trưng phương Đông, người nông dân Việt thuần hậu sống trong làng xã cổ truyền, vốn đặc biệt coi trọng tín ngưỡng “phồn thực” và cử chỉ sinh sản. Họ đã chỉ cho rằng thân thể phụ nữ Việt được coi là đẹp, nhất thiết phải có lưng ong (cách gọi hiện đại là vòng hai, trong tương quan với vòng một, vòng ba, của tỉ lệ vàng người đẹp hiện đại; 90-60-90). Lẽ dĩ nhiên, người đẹp Việt truyền thống cũng phải có khuôn mặt trái xoan ưa nhìn, mũi dọc dừa xinh, má lúm đồng tiền, cằm thon, lông mày lá liễu, môi ăn trầu đỏ tươi, răng đen hạt na đều tăm tắp… (“Có cô hàng xén răng đen/ Cười như mùa thu tỏa nắng” (thơ Hoàng Cầm). Song, chuẩn đẹp cao nhất của thiếu nữ Việt vẫn là lưng ong.
 Hai chị em (ảnh cổ) - phảng phất nét của người mẫu hiện đại
Kinh nghiệm dân gian cho thấy, thường lưng ong đã đẹp (đẹp người) thì những cái khác cũng theo đó mà đẹp luôn (đẹp nết). Thật có lí khi dân gian Việt phân tích: vẻ đẹp “lưng ong” thường lây lan sang vẻ đẹp tâm hồn và tính cách, biểu hiện ở hai phẩm chất đẹp nhất của người đẹp Việt Nam: Những người thắt đáy lưng ong/ Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con. Rồi nữa, người đã lưng ong xinh, thì cái gì cũng xinh: Người xinh tiếng nói cũng xinh/ Người giòn cái tỉnh tình tinh cũng giòn. Chưa hết, người xinh cũng là người khỏe mạnh, đầy sức sống “phồn thực”, được ví von quê kiểng: Em xinh là xinh như cây lúa. Em xinh em đứng một mình cũng xinh

Kinh nghiệm dân gian Việt thật tuyệt vời. Không cần cân đo đong đếm như thời nay: Hoa hậu phải thi ba vòng, thân thể phải tính tỉ lệ vàng theo số đo 3 vòng, chiều cao, cân nặng… Ngày xưa, muốn khen ai đẹp xinh, chỉ dám nhìn ngắm kín đáo, nương theo kinh nghiệm tiền nhân và những trải nghiệm thực tế. Chẳng thế mà người nông dân thường dặn dò con trai muốn tìm vợ thì nghe lời khuyên của người già “nhân bảo như thần bảo”. Chọn vợ thì chọn cái lưng ong trước hết, vừa xinh giòn lại đảm đang vén khéo cho giang sơn nhà chồng, đẹp người đi liền với đẹp nết.
 Bức ảnh cổ chụp về VN cuối TK 19 - 20,
một nét yêu kiều trên Vịnh Hạ Long
 2. Người đẹp Việt, đẹp và đảm đang như thế, đã không chỉ được đàn ông Việt khen…đẹp và muốn lấy làm vợ.

Ngay từ thế kỉ XVII, XVIII, nhiều người nước ngoài đến Việt Nam giao thương, truyền đạo đã nhận ra vẻ đẹp riêng biệt của phụ nữ Việt và không tiếc lời khen. Theo GS Trần Quốc Vượng, (sách “Truyền thống phụ nữ Việt Nam”, NXB Văn hóa dân tộc, HN, 2000), Jean Koffler, vị giáo sĩ người Tiệp, đã đến Đàng Trong (Trung Bộ, Nam Bộ, Nam Trung Bộ), từ 1740-1755. Về nước, ông viết “Cương yếu lịch sử Đàng Trong”(tr.43), nhấn mạnh: “Ở đây phái đẹp không kém gì châu Âu cả về hình dáng bề ngoài lẫn những phẩm chất trí não, kể cả trong cách nói chuyện nữa. Trang 584, ông phân tích: Những phụ nữ Việt thường khéo hơn nam giới trong việc làm tăng thêm tài sản gia đình. Người phụ nữ do mẹ dạy dỗ nên đã làm quen với công việc từ lúc bé. Họ rất khéo trong việc dệt vải bông và lụa. Họ nhuộm những thứ này thành nhiều màu khác nhau. Họ cũng rất khéo trong việc làm bánh trái và mứt kẹo. Nói tóm lại, người phụ nữ không để mất một nguồn lợi nào, bất kể là nguồn lợi đó từ đâu tới…Người phụ nữ lười biếng và ngu độn thường bị chê cười. Phụ nữ trồng thuốc lá trồng bông. Phụ nữ buôn bán ở chợ hay ở cửa hiệu người ngoại quốc… Họ có tính tiết kiệm, quản lí tài sản rất khéo nên sự nghèo khó ít xâm nhập được vào nhà họ”.

Ông John Barrow, hội viên Hội Hoàng gia Anh đến Đàng Trong, TK XVIII, khi về nước, viết trong sách “ Chuyến đi đến Đàng Trong": “Người phụ nữ ở đây rất hoạt bát, họ trông coi việc làm nhà, chỉ đạo lò gốm, chèo thuyền, mang hàng hóa ra chợ bán, bật bông, kéo sợi, dệt vải, may vá quần áo…Hầu hết đinh tráng phải đi lính. Đa phần công việc là do phụ nữ làm.Người phụ nữ ở đây không ai phải bó gối trong nhà. Phụ nữ đi buôn bán các loại hàng khá đông. Phụ nữ ở đây bao giờ cũng vui vẻ và luôn miệng nói. Họ sống rất tự do phóng khoáng, muốn làm gì thì làm, cũng như đàn ông. Họ vui vẻ và có duyên. Ngay cả vị cố đạo người Italia Cristoforo Borri sống ở Việt Nam từ 1618 đến 1621, trong bài “Kí sự Đàng Trong”, đăng trên “Đông Dương tạp chí” số 4/1909, cũng không thể không ca ngợi phụ nữ Việt: “tính khí êm dịu hơn bất cứ dân tộc nào khác ở Phương Đông”, “đón tiếp khách khứa rất nồng hậu, mời ăn cơm và coi như bạn bè, tâm tình khoáng đạt, thoải mái, dáng đi thong thả, uy nghi,quần áo của họ có lẽ là kín đáo nhất vùng Đông nam Á”.
 
3. Người đẹp Việt hôm nay đã nghiễm nhiên thừa hưởng những vẻ đẹp ấy của người đẹp Việt truyền thống. Trải qua cả một thế kỉ XX đầy biến động, phụ nữ Việt vẫn cố gắng giữ cho mình hình ảnh đẹp về người phụ nữ Việt hiện đại. Nhất là trong thời kì đổi mới ở Việt Nam, bắt đầu diễn ra các cuộc thi Hoa hậu quốc gia, với cuộc thi hoa hậu Việt Nam đầu tiên do Báo Tiền Phong tổ chức năm 1988, với 90 thiếu nữ Việt dự thi. Từ sự kiện ấy, đến nay, Việt Nam đã hàng chục cuộc thi Hoa Hậu quốc gia, và đã thành những sự kiện văn hóa. Vẻ đẹp của hoa hậu Việt Nam qua các cuộc thi đã thành vẻ đẹp chuẩn mực mang tính xã hội của người đẹp Việt Nam hiện đại.

Từ đây, người Việt có thể tính toán chiến lược cho việc quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, thông qua việc đưa người đẹp Việt tham gia các cuộc thi quốc tế và tổ chức đấu trường quốc tế cho người đẹp quốc tế thi sắc đẹp tại Việt Nam. Những việc cần làm ngay là chăm sóc cho vẻ đẹp văn hóa từ cuộc thi này không bị lụi tàn, phải xanh khỏe mạnh như hình ảnh tre trúc Việt Nam đã làm phông nền cho cuộc thi HHHV ở Việt Nam năm 2008…
 
PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái
Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN